Muốn thu hút 1500 chuyên gia quốc tế và kiều bào về nước làm việc: Cần đột phá về tiền lương, thưởng

14/04/2026 06:26
Ngọc Mai

GDVN - Việc áp dụng bảng lương hiện hành sẽ rất khó cạnh tranh trong thu hút chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về nước.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.

Chương trình được kỳ vọng tạo bước chuyển rõ nét về chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cũng như tư vấn chính sách, với trọng tâm hướng vào các lĩnh vực chiến lược và công nghệ mũi nhọn của quốc gia.

Mục tiêu cụ thể đặt ra đến năm 2035 là thu hút khoảng 1.500 chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia làm việc, giảng dạy, nghiên cứu theo nhiều hình thức, bao gồm hợp tác thường xuyên và cộng tác từ xa với các cơ sở giáo dục tại Việt Nam.

Đáng chú ý, các nhiệm vụ và giải pháp trong Quyết định đang thu hút sự quan tâm của nhiều cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, trọng tâm là việc nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng. Đồng thời xây dựng các quy định về điều kiện làm việc, môi trường học thuật theo hướng thuận lợi, cạnh tranh hơn; cho phép cơ sở giáo dục xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính và cơ chế thưởng dựa trên kết quả đầu ra.

Gỡ điểm "nghẽn" về lương, đãi ngộ, cơ chế tài chính để tăng sức cạnh tranh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá, những nhiệm vụ, giải pháp được đưa ra trong Quyết định số 530 sẽ tạo động lực đủ mạnh để thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài. Từ đó, góp phần nâng cao vị thế và năng lực của hệ thống giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Tuy nhiên, nếu vẫn áp dụng khung bảng lương hiện hành thì rất khó cạnh tranh trong việc thu hút nhân lực quốc tế. Do đó, thầy Hoàn cho rằng, cần chuyển sang cơ chế linh hoạt hơn, cho phép trường xây dựng đề án riêng khi mời chuyên gia quốc tế, nhà khoa học đầu ngành. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý phê duyệt và bố trí ngân sách tương xứng, giúp các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong chi trả thu nhập, đồng thời gắn trách nhiệm của chuyên gia với kết quả công tác cụ thể, thông qua cơ chế đánh giá định kỳ về đóng góp khoa học, đào tạo và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Cùng chia sẻ, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng là nội dung cần thiết trong bối cảnh nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học, nhất là để thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

“Đối với nhà khoa học, chuyên gia, thu nhập không phải yếu tố duy nhất nhưng đây vẫn là điều kiện để họ yên tâm và tập trung cho công việc khi về làm việc tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng cần triển khai các chính sách hỗ trợ đời sống như cho thuê nhà dài hạn, hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí học tập cho thân nhân của chuyên gia, nhà khoa học để thật sự tạo sức thu hút cho họ về nước”, thầy Nhân chia sẻ.

Cùng đưa ra quan điểm, phó hiệu trưởng của một trường đại học ở Hà Nội cho rằng, cơ chế tiền lương hiện hành còn chịu ràng buộc bởi khung bảng lương theo quy định, gây khó khăn trong việc tạo sức cạnh tranh để thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Do vậy, để thu hút được chuyên gia, nhà khoa học quốc tế, mức thu nhập cần tiệm cận với thị trường, tương tự như cách các cơ sở giáo dục tư thục đang thực hiện với mức chi trả rất cao cho nhân lực xuất sắc.

“Thiết nghĩ, Nhà nước có thể đảm nhận phần chi trả lương đặc thù ở mức cao nhất có thể, phần còn lại sẽ do cơ sở giáo dục chi trả cho nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài. Việc này hết sức cần thiết để có thể chia sẻ gánh nặng tài chính và tăng tính khả thi trong thực hiện mục tiêu thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về Việt Nam”, vị này chia sẻ.

Cụ thể hóa cơ chế chính sách để thu hút thực chất

Có thể thấy, Chính phủ phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục Việt Nam được các cơ sở giáo dục đại học kỳ vọng sẽ thu hút được nhân tài quốc tế từ việc hoàn thiện cơ chế chính sách.

Trong đó, các cơ sở giáo dục đại học đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của điều kiện làm việc, môi trường học thuật, nhằm thu hút chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài và Việt kiều về nước.

Chia sẻ về nội dung này, Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, một môi trường học thuật thiếu trang thiết bị, hạn chế nguồn lực nghiên cứu sẽ khiến nhà khoa học khó phát huy năng lực. Chưa kể, các thủ tục hành chính phức tạp đang cũng là rào cản lớn. Do đó, cần thiết kế cơ chế vận hành theo hướng thông thoáng, giảm tối đa giấy tờ, bảo đảm tuân thủ quy định nhưng không làm triệt tiêu thời gian và năng lượng dành cho nghiên cứu.

“Để thu hút và giữ chân chuyên gia, chính sách cần bảo đảm đồng thời điều kiện làm việc, môi trường học thuật đủ tốt, đi kèm mức đãi ngộ phù hợp và có sự chung tay của Nhà nước với cơ sở giáo dục đại học”, thầy Hoàn chia sẻ.

Trong khi đó, vị phó hiệu trưởng trường đại học ở Hà Nội cho hay, bên cạnh những tín hiệu tích cực về chính sách, môi trường nghiên cứu trong nước vẫn tồn tại một số “điểm nghẽn”. Trước hết là hạn chế về hạ tầng khoa học khi số lượng trung tâm, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm đạt chuẩn khu vực và quốc tế còn ít. Sự tham gia của doanh nghiệp lớn vào đầu tư cho khoa học và công nghệ chưa nhiều, khiến hệ sinh thái nghiên cứu, đổi mới sáng tạo chưa thực sự hoàn chỉnh.

Ngoài ra, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả đối với sản phẩm khoa học còn vướng, chưa tạo được sự yên tâm cho nhà khoa học. Thủ tục hành chính cũng là rào cản đáng kể khi thời gian cấp giấy phép lao động kéo dài, quy trình nhiều tầng nấc, thiếu cơ chế ưu tiên cho các chuyên gia trình độ cao; hệ thống hỗ trợ chưa đồng bộ, thiếu đầu mối “một cửa”, trong khi các thủ tục nội bộ liên quan đến hợp đồng, thanh toán, quyết toán còn phức tạp, làm chậm tiến độ triển khai hợp tác.

"Chúng ta cần có giải pháp đồng bộ. Trong đó, ở cấp vĩ mô, cần đơn giản hóa thủ tục, nghiên cứu cơ chế thị thực dài hạn cho nhà khoa học, áp dụng cơ chế đặc cách trong cấp phép lao động và cho phép vận dụng cơ chế trả lương linh hoạt theo thị trường quốc tế.

Ở cấp cơ sở, các trường đại học cần chủ động xây dựng hệ thống hỗ trợ chuyên gia theo mô hình “một cửa”, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh có sự dẫn dắt của các nhà khoa học quốc tế, đồng thời đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm để tạo môi trường làm việc thực chất, đủ sức cạnh tranh", vị này chia sẻ.

Còn thầy Nhân cho rằng, hiện đang tồn tại điểm nghẽn đó là hệ thống phòng thí nghiệm, đặc biệt trong các lĩnh vực mới, chưa được đầu tư tương xứng, dẫn đến việc nhiều nhà khoa học khi trở về chưa có đủ điều kiện để triển khai các dự án nghiên cứu, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học quốc tế.

truong-dh-cong-nghiep-tphcm.jpg
Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Được biết, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm đón khoảng 20 chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài đến làm việc trong thời gian ngắn, thường kéo dài vài tháng, với các chính sách hỗ trợ về lương, thưởng, vé máy bay. Trong khi đó, số lượng chuyên gia nước ngoài về trường làm việc lâu dài còn hạn chế. Do đó, nguồn nhân lực trình độ cao chủ yếu là các giảng viên của trường sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh ở nước ngoài trở về công tác, với số lượng vài chục tiến sĩ mỗi năm. Trong điều kiện hiện nay, việc bảo đảm đầy đủ các yếu tố đời sống cho cả chuyên gia và thân nhân khi về Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn.

Theo thầy Nhân, từ khi thực hiện tự chủ, nhà trường đã ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút nhà khoa học. Cụ thể, đối với giáo sư về công tác, mức hỗ trợ ban đầu có thể lên đến 500 triệu đồng; với các công trình nghiên cứu xuất sắc công bố trên các tạp chí quốc tế hàng đầu, mức thưởng có thể đạt tới hàng tỷ đồng. Bên cạnh đó, nhà trường còn hỗ trợ vé máy bay, chỗ ở và các điều kiện sinh hoạt khác. Tuy nhiên, do những vướng mắc về thủ tục và điều kiện nghiên cứu như đã nêu, số lượng chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc lâu dài tại trường vẫn chưa nhiều.

Còn tại Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường đã chủ động xây dựng chính sách thu hút riêng trong khả năng cho phép, như chi trả mức thu nhập khoảng 100 triệu đồng/tháng đối với chuyên gia nước ngoài về làm việc cơ hữu. Tuy nhiên, với các chuyên gia hợp tác ngắn hạn, hình thức chủ yếu vẫn là thuê theo gói công việc, đi kèm hỗ trợ về chỗ ở và điều kiện sinh hoạt. Hiệu trưởng Nguyễn Xuân Hoàn chia sẻ, nhà trường đã rất nỗ lực nhưng vẫn mang tính cục bộ và khó tạo sức bật vì thiếu các cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ Nhà nước.

“Thực tế, nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực của từng cơ sở giáo dục thì khó tạo ra sức cạnh tranh. Chính vì thế, cần có chính sách ở tầm quốc gia, với các gói hỗ trợ toàn diện nhằm giúp chuyên gia yên tâm làm việc lâu dài, như điều kiện nhà ở, giáo dục cho con cái, dịch vụ y tế; tác động trực tiếp đến quyết định dịch chuyển của nhân lực chất lượng cao”, thầy Hoàn chia sẻ.

Liên hệ với kinh nghiệm quốc tế, vị phó hiệu trưởng trường đại học ở Hà Nội cho biết, nhiều quốc gia vẫn duy trì tỷ lệ hỗ trợ nhất định của nhà nước cho hoạt động chi thường xuyên tại các cơ sở giáo dục đại học, tạo điều kiện để các trường chủ động phân bổ nguồn lực.

Còn ở trong nước, thực tế hiện nay cơ sở giáo dục đại học đang bị giảm chi thường xuyên và chưa thực sự có cơ chế bù đắp phù hợp.

Chính vì thế, việc có chính sách hỗ trợ thu nhập cho nhà khoa học, chuyên gia quốc tế với mức lương đặc thù từ Nhà nước, kết hợp với phần chi trả từ phía cơ sở đào tạo sẽ là cách tiếp cận có thể triển khai.

Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng cơ chế vận hành theo hướng thông thoáng, tạo điều kiện để nhà khoa học tập trung vào hoạt động chuyên môn, thu hút và duy trì được đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về công tác tại cơ sở giáo dục đại học.

"Để chính sách đủ sức hấp dẫn chuyên gia, nhà khoa học ở nước ngoài, cần có các cơ chế, chính sách đặc thù hơn, gồm hỗ trợ tài chính ban đầu, chính sách về nhà ở, tiền lương (ngoài khung lương hiện hành hoặc theo vị trí việc làm cần có phần thu nhập tăng thêm) và cơ chế thưởng gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm đầu ra.

Điều kiện sống cũng là yếu tố quan trọng và cần bảo đảm ba khía cạnh chính: nhà ở đạt chuẩn quốc tế, giáo dục cho con tại các trường quốc tế, cùng hệ thống y tế và giao thông thuận lợi. Từ đó, cần hướng tới xây dựng khu nhà ở dành cho chuyên gia gắn với đại học, đi kèm các gói hỗ trợ đồng bộ khi họ đến làm việc", vị này chia sẻ.

Ngọc Mai