Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo, trong đó giáo viên mầm non và phổ thông chỉ còn một hạng chức danh.
Cụ thể, Điều 3 Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chức danh nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông bao gồm: giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông.
Nội dung này hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều giáo viên. Nhiều ý kiến cho rằng việc bỏ phân chia hạng giáo viên được xem là một bước điều chỉnh phù hợp với bối cảnh và thực tiễn hiện nay.
Giáo viên giảm bớt áp lực và tập trung hơn vào công tác chuyên môn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hà Văn Hải - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Mỹ Tho (xã Phong Doanh, tỉnh Ninh Bình) chia sẻ, theo Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo, giáo viên từ bậc mầm non đến phổ thông sẽ được gọi theo chức danh chung của từng cấp học, thay vì phân hạng I, II, III như hiện nay. Đây là một trong những nội dung hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm của giáo viên.
Có thể thấy đây được xem là bước thay đổi đáng chú ý, hướng tới việc thống nhất cách gọi chung đối với đội ngũ nhà giáo, đặc biệt ở bậc phổ thông. Việc bỏ phân chia hạng giáo viên sẽ tạo thêm động lực để nhà giáo gắn bó và cống hiến với nghề.
Việc không phân hạng giáo viên cũng mang lại một số tác động tích cực. Trước hết, giáo viên sẽ không còn cảm giác bị phân biệt đối xử giữa các hạng, qua đó góp phần tạo tâm lý công bằng và ổn định hơn trong đội ngũ. Thực tế cho thấy, sự chênh lệch giữa các hạng, chẳng hạn từ hạng III lên hạng II sẽ kéo theo khác biệt đáng kể về thu nhập và chế độ đãi ngộ. Điều này dễ dẫn đến tâm lý phấn khởi đối với những người được thăng hạng, nhưng đồng thời cũng có thể khiến những giáo viên chưa được thăng hạng cảm thấy thiệt thòi, áp lực hoặc hụt hẫng. Vì vậy, việc bỏ phân hạng phần nào giúp hạn chế những so sánh, tâm lý trong giáo viên.
Ngoài ra, việc bỏ phân chia hạng giáo viên cũng phù hợp với thực tiễn. Bởi lẽ, dù ở hạng nào, giáo viên đều thực hiện những nhiệm vụ như nhau, giảng dạy, giáo dục học sinh và đảm nhiệm các công việc chuyên môn khác. Do đó, việc không còn phân hạng góp phần tạo cảm giác công bằng hơn trong đội ngũ. Đây là tin vui với nhiều giáo viên, tránh tâm lý so bì, giúp họ giảm bớt áp lực và tập trung hơn vào công tác chuyên môn.
Đồng quan điểm, theo thầy Hoàng Quang Cẩn – Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo (xã La Lay, tỉnh Quảng Trị), việc bỏ phân hạng được đánh giá là một bước tiến tích cực, thể hiện rõ định hướng đổi mới trong chính sách đối với đội ngũ nhà giáo. Điều này góp phần gỡ bỏ những rào cản mang tính hình thức trong phát triển nghề nghiệp của giáo viên cũng như giải quyết được triệt để những bất cập của việc xét thăng hạng giáo viên những năm qua.
Bên cạnh đó, việc bỏ phân hạng sẽ giảm bớt gánh nặng hành chính. Bởi việc xây dựng và thực hiện quy trình đánh giá phân hạng giáo viên thường phải qua nhiều khâu, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của cả giáo viên và cán bộ quản lý. Khi không còn duy trì cơ chế này, áp lực về hồ sơ, thủ tục được giảm nhẹ. Qua đó tạo điều kiện để đội ngũ tập trung nhiều hơn vào hoạt động chuyên môn và nâng cao chất lượng giáo dục.
Ngoài ra, điều này cũng phù hợp với việc tiến tới trả lương theo vị trí việc làm, góp phần đảm bảo quyền lợi cũng như tính công bằng cho giáo viên. Khi đó, thu nhập sẽ gắn trực tiếp với tính chất công việc và mức độ đóng góp, thay vì phụ thuộc vào hạng chức danh. Nếu được triển khai hiệu quả, đây sẽ là hướng đi mang lại nhiều lợi ích cho đội ngũ nhà giáo nói chung.
Có thể thấy, đây không chỉ là sự điều chỉnh về mặt cơ chế, chính sách, mà còn là sự chuyển biến trong đề cao năng lực thực chất và hiệu quả đóng góp của mỗi cá nhân trong hệ thống giáo dục.
Tháo gỡ những bất cập trong việc xét thăng hạng
Theo một giáo viên trường trung học phổ thông, thực tế, việc xét thăng hạng vẫn còn một số bất cập, dù các quy định về tiêu chí xét thăng hạng đã được xây dựng khá cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình triển khai vẫn phát sinh những vướng mắc, chưa thực sự phản ánh đầy đủ năng lực và đóng góp của đội ngũ giáo viên.
“Quy định mới tại Nghị định 93, theo tôi là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Thực tế, giáo viên dù ở hạng nào thì về cơ bản vẫn thực hiện cùng một khối lượng công việc, cùng định mức tiết dạy trung bình trong 01 tuần đối với giáo viên trung học phổ thông là 17 tiết/tuần, cùng đảm nhiệm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh.
Tuy nhiên, việc phân hạng lại dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập, tạo cảm giác thiếu công bằng. Không ít giáo viên ở hạng thấp hơn dễ có tâm lý thiệt thòi khi cho rằng mình làm công việc tương tự nhưng lương lại thấp hơn, tạo ra rào cản vô hình giữa các nhóm giáo viên. Từ đó ảnh hưởng đến động lực làm việc. Nếu xét về nguyên tắc công bằng, chỉ khi khối lượng hoặc tính chất công việc khác nhau thì sự khác biệt về lương mới thực sự hợp lý.
Đặc biệt, việc quy định tỷ lệ phần trăm mỗi hạng trong từng trường đôi khi cũng dẫn đến bất cập khi một số giáo viên trẻ có năng lực đủ điều kiện nhưng hồ sơ vẫn không thể thăng hạng vì hết chỉ tiêu ”, nữ giáo viên bày tỏ.
Còn theo thầy Hà Văn Hải, việc phân hạng hay bỏ phân hạng giáo viên đều có hai mặt nhất định. Nếu duy trì cơ chế phân hạng thì đây cũng là một cách tạo ra động lực để giáo viên thấy rõ con đường phát triển trong sự nghiệp của mình. Ngược lại, nếu bỏ phân hạng thì lại góp phần giảm sự so sánh, tạo cảm giác công bằng hơn trong đội ngũ.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế thăng hạng thời gian qua vẫn tồn tại một số bất cập đáng chú ý, đặc biệt là việc giới hạn cơ cấu, tỷ lệ các hạng chức danh nghề nghiệp. Theo quy định tại Công văn số 64/BNV-CCVC về xác định cơ cấu ngạch công chức và cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp viên chức, việc bổ nhiệm, xếp hạng phải bảo đảm tỷ lệ nhất định, trong đó hạng I không quá 10%, hạng II không quá 50%, còn hạng III và tương đương trở xuống không quá 40%.
Chính quy định về “trần tỷ lệ” này đã dẫn đến thực tế là không ít giáo viên dù đủ tiêu chuẩn, điều kiện và có thành tích nổi bật nhưng vẫn không được xét thăng hạng, do còn phụ thuộc vào chỉ tiêu cơ cấu của từng đơn vị. Điều này không chỉ gây thiệt thòi về chế độ tiền lương mà còn phần nào làm giảm động lực phấn đấu lâu dài của đội ngũ giáo viên.
Ngoài ra, khi một giáo viên được thăng hạng, đồng nghĩa với việc tăng hệ số lương và có thể được giao thêm trách nhiệm, điều này đòi hỏi hiệu trưởng phải tính toán kỹ để vừa đảm bảo công bằng trong phân công, vừa không làm xáo trộn hoạt động chung của trường.
Tuy nhiên, thầy Hải cũng băn khoăn rằng khi không còn phân chia hạng giáo viên thành các hạng I, II, III thì việc xếp lương cho giáo viên sẽ được thực hiện ra sao? Giáo viên đã nhiều năm công tác, hiện hưởng phụ cấp thâm niên, phụ cấp ưu đãi theo hạng I, II, III sẽ được xếp lương như thế nào? Điều quan trọng là cần bảo đảm mức sống của nhà giáo, giúp nhà giáo có nhiều động lực hơn để cống hiến cho sự nghiệp giáo dục.
Đồng quan điểm, thầy Cẩn cũng bày tỏ khi bỏ phân hạng thì làm thế nào để đảm bảo quyền lợi về lương và sự thăng tiến. Vì vậy, cần cơ chế trả lương gắn liền với vị trí việc làm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, năng lực thực tế và sự phát triển chuyên môn của từng giáo viên. Đồng thời, mong muốn sớm có quy định về chuyển xếp lương từ hạng sang chức danh mới, đảm bảo quyền lợi, phù hợp với mục tiêu đổi mới của Luật Nhà giáo.
Cùng bàn về vấn đề này, cô Bùi Thị Hường - Hiệu trưởng Trường Tiểu học số 1 Sín Chéng (Si Ma Cai, Lào Cai) chia sẻ, nếu tiến tới triển khai cơ chế trả lương theo vị trí việc làm sẽ tạo động lực thúc đẩy giáo viên nâng cao chất lượng công việc và phát huy năng lực chuyên môn.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là giữa các giáo viên có sự khác biệt về năng lực, chẳng hạn giữa người có chuyên môn vững vàng và người còn hạn chế thì việc xác định mức lương cần được thiết kế như thế nào để vừa khuyến khích phấn đấu, vừa đảm bảo tính hợp lý và công bằng.
Việc bỏ phân hạng giáo viên cũng đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với công tác đánh giá. Theo đó, thay vì dựa vào các danh xưng hành chính, việc đánh giá cần tập trung vào năng lực chuyên môn, kết quả giảng dạy và mức độ tiến bộ của học sinh.
Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay khi chưa có đầy đủ hướng dẫn cụ thể về chuyển xếp lương theo cơ chế mới, rất cần sớm ban hành các văn bản quy định thống nhất để rõ ràng trong việc triển khai. Đồng thời, cần xây dựng lộ trình chuyển đổi rõ ràng, bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ giáo viên đang giữ các hạng cũ, tránh để những người có thời gian công tác lâu năm bị thiệt thòi.