Là giáo viên, tôi băn khoăn về quy định "Học sinh không được lưu ban quá 3 lần trong một cấp học"

19/04/2026 06:55
Phan Tuyết

GDVN - Chúng ta thường lo lắng về tình trạng “ngồi nhầm lớp”, nhưng chính việc ép trẻ lên lớp khi chưa đủ nền tảng mới là điều khiến các em thực sự bị bỏ rơi.

Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT ngày 24/3/3026 ban hành Thông tư Ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học có hiệu lực từ ngày có hiệu lực từ ngày 15/5. Trong đó, có quy định: "Học sinh không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học" đang gây băn khoăn cho không ít giáo viên.

Là giáo viên có 30 năm trong đứng lớp, chứng kiến nhiều thế hệ học trò trưởng thành, tôi lại thấy có không ít trăn trở đằng sau những con số này.

anh-minh-hoa.jpg
Ảnh minh họa

Những đứa trẻ “đi chậm” – không phải lười mà trí tuệ của các em có giới hạn

Trong suốt ba thập kỷ làm nghề, lớp học của tôi chưa bao giờ là những con số đồng nhất. Bên cạnh những em học sinh nhanh nhẹn, tiếp thu kiến thức khá tốt luôn có những mảnh ghép khác biệt – những em mà nếu chỉ nhìn qua lăng kính của chương trình chuẩn, chúng ta dễ dàng dán nhãn là “lười biếng” hay “thiếu ý chí”.

Tôi còn nhớ như in cậu học trò tên Nam. Suốt 3 năm học lớp 1, Nam vẫn chỉ mới bập bẹ ghép được những âm vần đơn giản.

Nhiều phụ huynh, thậm chí là đồng nghiệp của tôi, nhìn vào kết quả học tập của Nam mà lắc đầu ngao ngán, cho rằng giáo viên chưa sát sao, em chưa cố gắng.

Nhưng chỉ khi cùng em đánh vật với con chữ trong những giờ phụ đạo muộn, tôi mới thấu hiểu: đó là giới hạn thực sự của trí tuệ. Đó là một sự khiếm khuyết trong khả năng tiếp thu của em.

Với những đứa trẻ như Nam, việc ở lại lớp không phải là một sự thụt lùi đáng xấu hổ. Đó là việc cần thiết, một "vùng đệm" an toàn để tâm hồn và trí não các em có thêm thời gian để "chín".

Khi được ở lại lớp, được dạy lại bằng sự kiên nhẫn và phương pháp cá nhân hóa, Nam đã từng bước lấy lại được sự tự tin – thứ vốn rất dễ vỡ vụn khi bị ép buộc phải chạy đua trong một môi trường học tập vượt quá khả năng.

Chúng ta thường lo lắng về tình trạng “ngồi nhầm lớp”, nhưng có lẽ, chính việc ép trẻ lên lớp khi chưa đủ nền tảng mới là điều khiến các em thực sự bị bỏ rơi.

Nghịch lý, đúng quy định nhưng sai lệch năng lực

Hiện nay, theo quy định về tuổi của học sinh tiểu học tại Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT ngày 4/9/2020 về Điều lệ trường tiểu học nêu: "Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm. Trẻ em khuyết tật, kém phát triển về thể lực hoặc trí tuệ, trẻ em ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ em người dân tộc thiểu số, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em ở nước ngoài về nước, con em người nước ngoài học tập, làm việc ở Việt Nam có thể vào học lớp một ở độ tuổi cao hơn so với quy định nhưng không quá 03 tuổi. Trường hợp trẻ em vào học lớp một vượt quá 03 tuổi so với quy định sẽ do trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quyết định;

Học sinh tiểu học học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định trong trường hợp học sinh học lưu ban, học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh là người khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực hoặc trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh ở nước ngoài về nước và trường hợp khác theo quy định của pháp luật".

Với quy định cũ, không có giới hạn số năm lưu ban cụ thể. Vì thế, theo quy định mới có hiệu lực từ 15/5 tới đây, học sinh sẽ không được lưu ban quá 03 lần trong một cấp học. Người viết lo lắng, có thể tới đây việc lên lớp không còn dựa trên năng lực thực tế của trẻ.

Tiểu học là bậc học mang tính nền tảng rất lớn, khi những phép tính cơ bản hay kỹ năng đọc hiểu còn chưa vững, thì lên các lớp trên, mỗi bài giảng đối với các em chẳng khác nào một ngôn ngữ xa lạ. Đến bậc Trung học cơ sở, khi yêu cầu tự học tăng cao và khối lượng kiến thức chuyên sâu lớn hơn, việc những em năng lực yếu không thể theo kịp là điều khó tránh khỏi.

Hơn thế nữa, một thực tế khác là áp lực từ các tiêu chí thi đua, kết quả phổ cập giáo dục của địa phương và danh hiệu “Trường chuẩn quốc gia” khiến nhiều đơn vị khó lòng giữ học sinh ở lại quá lâu. Sự lựa chọn “an toàn” trong mắt các nhà quản lý thường là cho học sinh lên lớp. Điều này vô tình tạo ra một kiểu “ngồi nhầm lớp” mới là đúng quy định về số lần lưu ban nhưng sai lệch hoàn toàn với năng lực của trẻ.

Cần sự linh hoạt hơn là những giới hạn cứng

Sau 30 năm đứng lớp, tôi vẫn tin rằng giới hạn số lần lưu ban là cần thiết để tránh tình trạng “lưu ban triền miên” làm mất đi động lực của trẻ. Nhưng quản lý giáo dục không thể áp đặt một chiếc áo chung cho mọi cỡ người. Để giải quyết bài toán này, chúng ta cần một cách tiếp cận mang tính nhân văn và cá thể hóa sâu sắc hơn:

Thứ nhất, cần thay đổi cách can thiệp. Thay vì chỉ quan tâm đến việc học sinh có được ở lại lớp hay không, cần có chương trình can thiệp chuyên biệt.

Những em này nên được coi là nhóm học sinh có “khó khăn đặc thù” cần sự hỗ trợ từ các chuyên gia tâm lý, giáo dục đặc biệt, thay vì chỉ để giáo viên chủ nhiệm xoay xở trong các giờ phụ đạo đơn thuần.

Thứ hai, cần cơ chế ngoại lệ. Với những trường hợp có hồ sơ xác nhận khó khăn về trí tuệ hoặc khả năng tiếp thu đặc biệt, cần có cơ chế cho phép lưu ban linh hoạt hơn. Sự linh hoạt này không phải là sự hạ thấp tiêu chuẩn, mà là sự thừa nhận rằng mỗi đứa trẻ có một nhịp độ phát triển riêng.

Thứ ba, sự đồng hành của cả hệ thống. Cần sự chung tay của chuyên gia, của gia đình và các tổ chức xã hội. Phụ huynh cũng cần được tư vấn để chấp nhận khả năng thực tế của con, thay vì đặt nặng áp lực “lên lớp” để rồi nhìn con mình trở thành nạn nhân của những con số thi đua.

Sau ba thập kỷ nhìn những thế hệ học trò đi qua đời mình, tôi nhận ra một điều rất giản dị: có những đứa trẻ không thể đi nhanh, nhưng nếu được kiên nhẫn đồng hành, các em vẫn có thể đi tới.

Giới hạn 3 lần lưu ban có thể là một khung pháp lý cần thiết trong công tác quản lý, nhưng nếu thiếu đi những giải pháp hỗ trợ đủ sâu, đủ sát, nó có thể vô tình "đóng cánh cửa” với những đứa trẻ hạn chế về năng lực trí tuệ.

Chúng ta có trách nhiệm không chỉ với những em xuất sắc, mà còn có trách nhiệm với cả những em chưa thể “về đích” kịp thời gian. Đó là điều nhiều gia đình có con hạn chế năng lực tiếp thu cần ở môi trường giáo dục.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Phan Tuyết