Chuẩn nghề nghiệp mới cũng đặt ra không ít thách thức đối với giảng viên đại học

20/04/2026 06:24
Thu Trang

GDVN -Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT vừa là cơ hội để giảng viên phát triển bản thân, vừa là động lực để các cơ sở giáo dục đầu tư vào đội ngũ chất lượng cao.

Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT Quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học là mở rộng phạm vi áp dụng đối với toàn bộ đội ngũ giảng viên đại học, bao gồm giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và ngoài công lập, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối với từng chức danh, các yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiên cứu khoa học và đóng góp học thuật được quy định theo mức độ phù hợp, góp phần định hướng rõ lộ trình phát triển nghề nghiệp của giảng viên.

Đối với giảng viên đại học, Thông tư 26 yêu cầu giảng viên đại học thực hiện được các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; ứng dụng được công nghệ thông tin và sử dụng được ngoại ngữ trong thực hiện các nhiệm vụ của chức danh giảng viên.

Đối với giảng viên chính phải chủ trì thực hiện ít nhất 01 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên; Chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất 01 sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ đại học trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN.

Bên cạnh đó, phải là tác giả của ít nhất 03 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.

Còn đối với giảng viên cao cấp, phải chủ trì thực hiện ít nhất 02 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc 01 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.

Giảng viên cao cấp phải hướng dẫn ít nhất 2 học viên được cấp bằng thạc sĩ hoặc hướng dẫn chính, phụ hoặc độc lập ít nhất một nghiên cứu sinh được cấp bằng tiến sĩ. Nếu giảng viên không tham gia hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ thì số lượng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được nghiệm thu phải gấp 2 lần.

Ngoài ra, phải chủ trì biên soạn ít nhất 01 sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ ĐH trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN;

Là tác giả của ít nhất 06 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.

Thông tư số 26 là cơ sở quan trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Linh Huân - giảng viên Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, điểm mới đáng chú ý nhất của Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT là chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học lần này được xây dựng theo hướng thống nhất cho toàn hệ thống.

Nếu Thông tư số 40/2020/TT-BGDĐT chủ yếu áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong cơ sở giáo dục đại học công lập thì Thông tư 26 mở rộng đối tượng áp dụng đối với giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục. Điều này cho thấy cách tiếp cận mới không còn giới hạn trong quản lý đội ngũ ở khu vực công lập mà hướng tới một mặt bằng chuẩn chung cho giảng viên đại học trên phạm vi rộng hơn.

Đồng thời, Thông tư 26 tách riêng vấn đề chuẩn nghề nghiệp thành một văn bản độc lập. Thông tư quy định trực tiếp về nhiệm vụ và chuẩn nghề nghiệp của giảng viên đại học theo từng chức danh, trên cơ sở Luật Nhà giáo 2025 và Nghị định số 93/2026/NĐ-CP. Cách thiết kế đó cho thấy trọng tâm của chính sách không chỉ là quản lý chức danh hay xếp lương mà là xác lập một khung chuẩn để sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên theo năng lực nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, nội dung chuẩn nghề nghiệp được quy định cụ thể và toàn diện hơn. Thông tư xác lập ba nhóm yêu cầu cơ bản gồm đạo đức nghề nghiệp, trình độ đào tạo và bồi dưỡng, cùng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Trong đó, ngoài yêu cầu về chuyên môn giảng dạy còn nhấn mạnh các nội dung như liêm chính học thuật, tính trung thực và minh bạch trong giảng dạy và nghiên cứu, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng ngoại ngữ, tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Như vậy, chuẩn nghề nghiệp mới không chỉ đo bằng bằng cấp mà còn đo bằng năng lực hành nghề thực chất của giảng viên.

Về yêu cầu nâng cao chuyên môn, Thông tư 26 đòi hỏi rõ hơn đối với việc tự học, tự bồi dưỡng và cập nhật tri thức. Ở giảng viên, yêu cầu không chỉ là giảng dạy đúng học phần được phân công mà còn phải nắm được thực tiễn và xu thế phát triển của chuyên ngành, sử dụng hiệu quả phương tiện dạy học, đồng thời thực hiện được các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều đó có nghĩa là giảng viên đại học sẽ phải phát triển chuyên môn theo hướng liên tục, gắn giảng dạy với nghiên cứu, với công nghệ và với yêu cầu hội nhập học thuật.

Có thể thấy, Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT tạo ra áp lực nhưng là áp lực tích cực. Chuẩn mới buộc giảng viên phải phát triển nghề nghiệp theo hướng thực chất hơn, trong đó giảng dạy phải đi cùng nghiên cứu, nghiên cứu phải có sản phẩm học thuật cụ thể, còn hoạt động nghề nghiệp phải đặt trên nền tảng đạo đức học thuật, công nghệ và hội nhập. Về lâu dài, đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học.

image-2.jpg
Ảnh minh họa: Mộc Trà.

Cùng bàn về vấn đề này, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam.

Việc Thông tư này mở rộng áp dụng chuẩn nghề nghiệp cho cả giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục là điểm rất tích cực. Điều này tạo ra sự đồng bộ, nhất quán về tiêu chuẩn chất lượng trên toàn hệ thống giáo dục đại học, đảm bảo rằng mọi giảng viên đều phải đáp ứng cùng một bộ tiêu chí về đạo đức, trình độ và năng lực chuyên môn. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng chung của nguồn nhân lực giảng dạy.

Nhìn chung, Thông tư 26 đòi hỏi giảng viên phải liên tục tự bồi dưỡng, vừa vững vàng chuyên môn giảng dạy, vừa mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, đồng thời thành thạo các công cụ và kỹ năng hội nhập quốc tế.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thành - Trưởng phòng Công tác Chính trị - Sinh viên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Thông tư 26 thể hiện tầm nhìn dài hạn khi đặt trọng tâm vào yếu tố con người. Giảng viên trước hết cần đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức tại điều 4 của Thông tư. Đây được coi là nền tảng để mỗi giảng viên hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức trước khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục.

Đồng thời, các yêu cầu về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng ngoại ngữ trong thực hiện nhiệm vụ của giảng viên cũng đã được cụ thể hóa rõ ràng hơn. Điều này phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu về năng lực số ngày càng cao. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet, trí tuệ nhân tạo và khoa học công nghệ đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giảng viên trong việc thích ứng và đổi mới hoạt động giảng dạy, nghiên cứu. Vì vậy, Thông tư lần này đã quy định một cách chi tiết, cụ thể nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục trong thời đại hiện nay.

Một điểm đặc biệt là tiêu chuẩn về đạo đức trong Thông tư được cụ thể hóa, đặc biệt là việc tuân thủ các quy định về đạo đức học thuật và bảo đảm liêm chính khoa học. Việc đề cao liêm chính khoa học không chỉ mang ý nghĩa đối với chất lượng đào tạo và nghiên cứu, mà còn là yêu cầu tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam.

Để nâng cao vị thế và tiệm cận với chuẩn mực của các quốc gia trong khu vực châu Á và trên thế giới, các cơ sở giáo dục đại học nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng bắt buộc phải tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc này. Đây được xem là một “ngưỡng chuẩn” quan trọng nhằm bảo đảm sự tương thích, gắn kết và tôn trọng lẫn nhau trong môi trường học thuật và nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học trong nước với các đối tác quốc tế.

Đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ mỗi giảng viên để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tân, để đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT, đội ngũ giảng viên vừa có những thuận lợi, vừa đối mặt với không ít thách thức.

Trước hết, Thông tư 26 góp phần chuẩn hóa và nâng cao chất lượng giảng viên về trình độ, chuyên môn và kỹ năng, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của giáo dục đại học. Đồng thời, các quy định mới cũng mở ra cơ hội và tạo động lực để giảng viên tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, tạo ra các sản phẩm có giá trị, qua đó nâng cao trình độ học thuật, năng lực nghề nghiệp và uy tín cá nhân.

Bên cạnh đó, giảng viên được khuyến khích chủ động tham gia xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, góp phần cải thiện chất lượng bài giảng. Việc chú trọng nâng cao năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin cũng giúp giảng viên tiếp cận nguồn tài liệu quốc tế, mở rộng cơ hội hợp tác và thúc đẩy hội nhập sâu rộng với nền giáo dục toàn cầu.

Tuy nhiên, quá trình triển khai các yêu cầu này cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể. Trước hết là áp lực về thời gian và tài chính khi giảng viên phải đầu tư đáng kể cho việc học tập nâng cao trình độ và tham gia nghiên cứu khoa học. Không phải giảng viên nào cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các chương trình đào tạo chất lượng cao, nguồn kinh phí nghiên cứu hay cơ sở vật chất hỗ trợ.

Yêu cầu đổi mới liên tục cũng đòi hỏi giảng viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức, phương pháp giảng dạy, kỹ năng công nghệ và ngoại ngữ để thích ứng với thực tiễn và xu thế phát triển. Các tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học theo chuẩn quốc tế là một thách thức lớn. Điều này đòi hỏi mỗi giảng viên phải không ngừng nâng cao năng lực nghiên cứu và phương pháp học thuật.

Đặc biệt, việc Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT đưa "liêm chính khoa học" trở thành tiêu chuẩn bắt buộc cho giảng viên đại học là một bước tiến vô cùng quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Điều này giúp nền giáo dục đại học Việt Nam tiệm cận chuẩn mực toàn cầu, nâng cao uy tín, tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế và công bố nghiên cứu. Khuyến khích giảng viên thực hiện nghiên cứu trung thực, khách quan, minh bạch, từ đó nâng cao giá trị và chất lượng khoa học.

Tuy nhiên, để tiêu chuẩn này phát huy hiệu quả, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ, các chương trình bồi dưỡng về đạo đức học thuật và xây dựng văn hóa liêm chính mạnh mẽ trong các cơ sở giáo dục đại học. Đây là một yếu tố then chốt để xây dựng một nền khoa học vững mạnh và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, mỗi giảng viên cần chủ động học tập nâng cao trình độ, tham gia các chương trình bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp, đồng thời thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên ngành và xu hướng mới. Bên cạnh đó, cần tích cực tham gia và chủ trì các đề tài khoa học, biên soạn sách, công bố bài báo trên các tạp chí quốc tế nhằm phát triển tri thức và khẳng định năng lực học thuật. Việc thành thạo công nghệ thông tin và ngoại ngữ cũng là điều kiện quan trọng để tiếp cận nguồn tài liệu quốc tế và mở rộng hợp tác nghiên cứu.

Song song với đó, giảng viên cần đảm bảo phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp, luôn giữ gìn uy tín của người thầy, xây dựng tinh thần đoàn kết với đồng nghiệp và đối xử công bằng với người học. Việc tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức học thuật, đảm bảo tính minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu và công bố kết quả là yêu cầu mang tính nền tảng.

Ngoài ra, tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng cũng là yếu tố không thể thiếu. Giảng viên cần tận tụy với công việc, sẵn sàng đổi mới để thích ứng với những thay đổi trong chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy cũng như các quy định mới. Đồng thời tích cực tham gia các hoạt động phát triển nghề nghiệp và phục vụ cộng đồng.

dao-hien-2-3610-7700.jpg
Ảnh minh hoạ. Đào Hiền

Còn theo Thạc sĩ Trần Linh Huân, thuận lợi chung của các tiêu chuẩn này là tạo ra động lực chuẩn hóa và nâng tầm chức danh giảng viên trong trường đại học. Nhưng thách thức chung là mức độ đáp ứng của giảng viên sẽ phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thể chế, môi trường nghiên cứu, quy mô đào tạo sau đại học, cơ chế tài chính, hỗ trợ xuất bản và quốc tế hóa của từng cơ sở giáo dục đại học. Nói cách khác, đây là bộ tiêu chuẩn đúng về định hướng nhưng để thực hiện hiệu quả thì cần đi kèm với chính sách hỗ trợ thực chất từ phía nhà trường và cơ quan quản lý.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuẩn hóa đội ngũ ngày càng cao, điều quan trọng nhất là mỗi giảng viên phải xem việc nâng cao năng lực nghề nghiệp là một quá trình tự thân, liên tục và có kế hoạch, chứ không phải chỉ đáp ứng yêu cầu khi được đánh giá hoặc bổ nhiệm.

Trước hết, mỗi giảng viên trước hết phải chủ động tự học và cập nhật tri thức chuyên môn thường xuyên. Thông tư đã xác định nhiệm vụ của giảng viên không chỉ là giảng dạy mà còn phải học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tham gia hoạt động thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, giảng viên không thể chỉ dựa vào tri thức đã có mà cần liên tục cập nhật thành tựu mới của ngành, đổi mới nội dung học phần, phương pháp giảng dạy và cách đánh giá người học.

Hai là phải gắn chặt hoạt động giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Giảng viên muốn phát triển bền vững thì không thể chỉ dạy tốt mà còn phải hình thành năng lực nghiên cứu thật sự, có sản phẩm học thuật cụ thể và biết đưa kết quả nghiên cứu trở lại phục vụ giảng dạy.

Ba là phải nâng cao năng lực công nghệ số và ngoại ngữ như một năng lực nghề nghiệp thiết yếu. Thông tư quy định giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp đều phải ứng dụng được công nghệ thông tin và sử dụng được ngoại ngữ trong thực hiện nhiệm vụ theo chức danh. Trong điều kiện hiện nay, đây không còn là kỹ năng phụ trợ mà là công cụ trực tiếp để giảng viên khai thác tài liệu quốc tế, công bố nghiên cứu, tổ chức dạy học hiện đại, tham gia mạng lưới học thuật và thích ứng với môi trường đại học số.

Bốn là rèn luyện đạo đức học thuật và bản lĩnh nghề nghiệp một cách thực chất. Điều 4 của Thông tư đặt ra yêu cầu giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; đồng thời tuân thủ đạo đức học thuật, bảo đảm liêm chính khoa học, trung thực và minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu. Đây là nội dung rất quan trọng, vì trong môi trường đại học, năng lực chuyên môn chỉ thật sự có giá trị khi đi cùng trách nhiệm nghề nghiệp và sự liêm chính học thuật.

Đồng thời mỗi giảng viên cần phải mở rộng kết nối với thực tiễn và cộng đồng học thuật. Thông tư coi tham gia hoạt động thực tiễn, hợp tác quốc tế, phát triển nghề nghiệp và phục vụ cộng đồng là một phần trong nhiệm vụ của giảng viên đại học. Điều đó cho thấy giảng viên hiện nay không thể chỉ làm việc khép kín trong lớp học mà cần tăng cường trao đổi học thuật, tham gia hội thảo, mạng lưới nghiên cứu, kết nối với cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp để vừa làm giàu tri thức chuyên môn, vừa nâng cao khả năng thích ứng trước yêu cầu mới của giáo dục đại học.

“Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực của giảng viên không thể chỉ đặt hoàn toàn lên vai từng cá nhân. Thông tư cũng giao trách nhiệm cho cơ sở giáo dục đại học trong việc bố trí, phân công, đánh giá, đồng thời xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên. Vì vậy, để các chuẩn nghề nghiệp mới đi vào thực chất, ngoài nỗ lực tự thân của giảng viên còn cần môi trường học thuật tốt, cơ chế khuyến khích nghiên cứu, hỗ trợ bồi dưỡng và đánh giá công bằng từ phía nhà trường”, thầy Huân chia sẻ.

Thu Trang