Nhân học trong bức tranh giáo dục đại học: Giữ vai trò nền tảng, mở rộng hướng đi nghề nghiệp

01/05/2026 06:25
ĐÀO HIỀN

GDVN - Với thế mạnh về nghiên cứu thực địa và phân tích văn hoá – xã hội, ngành Nhân học đang mở ra nhiều hướng đi nghề nghiệp bền vững cho người học.

Trong bức tranh đào tạo đại học ngày càng đa dạng, bên cạnh những ngành học “hot” theo xu thế, các ngành khoa học cơ bản mang tính liên ngành vẫn giữ vai trò quan trọng. Nhân học là một ví dụ điển hình, khi đã có lịch sử hình thành lâu nhưng vẫn chưa được nhiều thí sinh hiểu đầy đủ do đặc thù tên gọi.

Từ đào tạo thực địa, kỹ năng liên ngành đến cơ hội làm việc tại các tổ chức quốc tế

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng - Phó Trưởng khoa Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: Nhân học là một trong những trụ cột tri thức quan trọng của nhân loại, với lịch sử phát triển hơn một thế kỷ tại các nền học thuật lớn như Anh, Pháp và Mỹ.

Tại Việt Nam, ngành học này cũng đã từng bước khẳng định vị thế qua nhiều thập kỷ, gắn với những đóng góp trong nghiên cứu văn hóa và tộc người. Tên gọi “Nhân học” hiện nay được xem là sự kế thừa và phát triển từ nền tảng Dân tộc học truyền thống, nhằm đáp ứng những biến đổi ngày càng phức tạp của xã hội đương đại.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng, chương trình đào tạo ngành Nhân học tại nhà trường được xây dựng theo định hướng kết hợp giữa nền tảng học thuật và tính ứng dụng. Trước hết, sinh viên được trang bị hệ thống kiến thức nền tảng về văn hóa, lịch sử, tôn giáo và cấu trúc xã hội, qua đó hình thành góc nhìn toàn diện về sự đa dạng của con người. Bên cạnh đó, chương trình chú trọng các nội dung chuyên sâu gắn với thực tiễn, như di cư, biến đổi khí hậu, sinh kế tộc người hay bất bình đẳng giới.

Đặc biệt, sinh viên được rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu định tính như quan sát, phỏng vấn chuyên sâu, thâm nhập cộng đồng và phân tích bối cảnh. Đây được xem là lợi thế nổi bật của cử nhân Nhân học trong bối cảnh hiện nay, khi khả năng thấu hiểu con người và yếu tố văn hóa ngày càng trở nên quan trọng trong các lĩnh vực như nhân sự, marketing, truyền thông hay quản trị dự án xã hội.

thay-hoang.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng - Phó Trưởng khoa Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: website nhà trường.

Tại Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) được đánh giá là một trong những cơ sở uy tín đào tạo ngành Nhân học.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng, thế mạnh của nhà trường được xây dựng trên hai trụ cột chính là truyền thống đào tạo và mạng lưới hợp tác quốc tế, cùng với phương pháp giảng dạy gắn với thực địa. Đây là đơn vị đào tạo ngành Nhân học hàng đầu cả nước ở cả ba trình độ (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm và mạng lưới đối tác quốc tế rộng khắp từ Hà Lan, Úc, Pháp, Canada, Hoa Kỳ.

Đáng chú ý, phương pháp “điền dã” (fieldwork) được xem là điểm nhấn trong đào tạo khi chuyển từ cách học lý thuyết sang tiếp cận thực tiễn. Sinh viên được tham gia các chuyến khảo sát tại làng nghề, cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi, cũng như các bảo tàng từ trung ương đến địa phương. Nhiều chương trình điền dã kéo dài cho phép người học trực tiếp sinh hoạt, làm việc cùng cộng đồng, qua đó hiểu sâu hơn về đời sống và văn hóa địa phương.

Đồng thời, nội dung đào tạo liên tục được cập nhật theo xu hướng quốc tế với các học phần như Nhân học hình ảnh, Nhân học phát triển, Nhân học y tế, Nhân học di sản và du lịch. Nhà trường cũng tăng cường các học phần giảng dạy bằng tiếng Anh, nhằm giúp sinh viên sẵn sàng làm việc trong môi trường toàn cầu hoặc tiếp tục theo đuổi các cơ hội học tập ở nước ngoài.

Bên cạnh chương trình đào tạo chính khóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) còn triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nhằm giúp sinh viên nâng cao năng lực, tích lũy kinh nghiệm và mở rộng cơ hội việc làm.

Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng cho biết, nhà trường quan niệm việc học không chỉ diễn ra trong phạm vi giảng đường, mà cần gắn với trải nghiệm thực tiễn. Trên tinh thần đó, Khoa và Nhà trường đã xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho sinh viên.

Trong đó, chuỗi sự kiện kết nối nghề nghiệp được tổ chức định kỳ hằng tháng, bao gồm các hội thảo, talkshow, tọa đàm hướng nghiệp với sự tham gia của chuyên gia, nhà tuyển dụng và cựu sinh viên. Thông qua các hoạt động này, nhiều sinh viên đã chủ động thiết lập mối liên hệ với các cơ quan, tổ chức phù hợp để tìm kiếm cơ hội thực tập và việc làm.

Bên cạnh đó, các chương trình học bổng và trao đổi quốc tế cũng được đẩy mạnh. Sinh viên được tiếp cận thường xuyên với các cơ hội trao đổi ngắn hạn, dài hạn, nhận học bổng của nhà trường, cũng như tham gia các dự án nghiên cứu quốc tế với vai trò cộng tác viên. Đặc biệt, giải thưởng Phan Hữu Dật là một trong những học bổng tiêu biểu dành cho sinh viên Nhân học có thành tích xuất sắc.

nhan-hoc-thuc-hanh.jpg
Tập huấn “Thực hành điền dã Dân tộc học" do Khoa Nhân học và Tôn giáo học (USSH) và Viện Nhân học Văn hóa và Xã hội (Đại học Goettingen, Đức) phối hợp tổ chức.

Đánh giá về nhu cầu nhân lực ngành Nhân học hiện nay, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Minh Châu - Giảng viên cao cấp Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, trong bối cảnh nhiều lĩnh vực chịu tác động mạnh từ những biến đổi toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), nhu cầu nhân lực ngành Nhân học vẫn duy trì sự ổn định, thậm chí có xu hướng gia tăng.

Theo thầy Châu, lợi thế cốt lõi của ngành Nhân học nằm ở năng lực nghiên cứu thực địa, thông qua quá trình tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng và địa bàn nghiên cứu. Điều này giúp các nhà nhân học không chỉ trải nghiệm và thấu hiểu những đặc điểm riêng của từng bối cảnh, vùng miền mà còn nắm bắt được nhu cầu, cách nghĩ và hành vi của con người trong các điều kiện cụ thể. Trong tương lai gần, những năng lực này vẫn khó có thể bị thay thế bởi công nghệ.

Từ nền tảng đó, sinh viên tốt nghiệp ngành Nhân học có cơ hội việc làm đa dạng trong cả khu vực công và tư. Đáng chú ý, lĩnh vực phát triển (development) được xem là một trong những hướng đi tiềm năng, nơi các nhà nhân học tham gia nghiên cứu, đánh giá tác động của các chương trình, dự án, đồng thời trực tiếp hỗ trợ triển khai hoạt động phát triển tại cộng đồng.

Nhờ năng lực nghiên cứu thực địa và sự nhạy cảm văn hóa, nguồn nhân lực Nhân học hiện đang làm việc tại nhiều tổ chức quốc tế như các cơ quan thuộc Liên Hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, cơ quan phát triển của các quốc gia, các công ty tư vấn và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và thúc đẩy bình đẳng giới.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Minh Châu - Giảng viên cao cấp Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Minh Châu - Giảng viên cao cấp Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Trong khi đó, Tiến sĩ Phan Phương Anh - Giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) lại cho rằng, ở nước ta, công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới đã tạo điều kiện cho các chuyên gia Nhân học tham gia làm việc trong nhiều lĩnh vực.

Cụ thể, nhóm thứ nhất bao gồm nghiên cứu viên và giảng viên có khả năng đảm nhiệm công việc nghiên cứu, giảng dạy ở các bậc đại học và sau đại học về con người, văn hoá và xã hội loài người, thực hành phát triển và bảo tồn ở các cơ quan bảo tàng, khu du lịch, khu bảo tồn, di tích, thư viện...

Nhóm hai là viên chức làm việc trong các cơ quan của Đảng và hệ thống chính quyền Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế và phi chính phủ, và các tổ chức chính trị xã hội khác có nhu cầu sử dụng tri thức nhân học và phương pháp của nhân học nhằm giải quyết các vấn đề xã hội.

Nhóm ba là các nhà nhân học thực hành, là cán bộ tư vấn có khả năng đảm nhiệm các công việc ứng dụng phục vụ việc hoạch định và triển khai các chính sách xã hội, như nghiên cứu chính sách, đánh giá tác động, đánh giá nhu cầu, nghiên cứu điều tra dân tộc học. Hoặc làm chuyên gia về phát triển cộng đồng, về phát triển xã hội, đảm nhiệm các công việc quản lý và điều hành chương trình/dự án nghiên cứu hoặc ứng dụng liên quan đến tri thức và phương pháp nghiên cứu của nhân học.

Tiến sĩ Phan Phương Anh - Giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC

Tiến sĩ Phan Phương Anh - Giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC

Tăng cường thực hành, rèn kỹ năng để thích ứng thị trường lao động

Bên cạnh nội dung lý thuyết, hoạt động thực hành, thực tập cũng được xem là một cấu phần quan trọng trong đào tạo Nhân học.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Minh Châu cho biết, sinh viên ngành Nhân học có ba cơ hội thực hành, thực tập chính trong quá trình đào tạo.

Thứ nhất, chương trình thực tập tập trung kéo dài khoảng 15 ngày tại một địa bàn cụ thể, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên. Đây là học phần bắt buộc, trong đó sinh viên được tham gia thực địa, thường tại các khu vực dân tộc thiểu số miền núi, để cùng ăn, ở, làm việc với người dân, qua đó tìm hiểu đời sống, văn hoá và xã hội từ góc nhìn thực tế.

Thứ hai là các chuyến thực địa ngắn ngày trong khuôn khổ từng học phần như Nhân học di sản và du lịch, Nhân học hình ảnh hay Nhân học tôn giáo. Những chuyến đi này giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học trên lớp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghiên cứu theo từng chủ đề cụ thể, như tìm hiểu di sản hát quan họ hay thực hành phương pháp photovoice.

Thứ ba là thông qua các hình thức học tập như bài tập nhóm, thuyết trình, niên luận, nghiên cứu khoa học sinh viên và khoá luận tốt nghiệp. Các hoạt động này yêu cầu sinh viên trực tiếp đi thực địa, tiếp cận cộng đồng, thu thập tư liệu và xử lý thông tin. Trong quá trình đó, sinh viên vừa nhận được sự hướng dẫn từ giảng viên, vừa có cơ hội phát huy tính chủ động và khả năng làm việc độc lập.

Từ trải nghiệm học tập và làm việc trong nhiều môi trường khác nhau, Thạc sĩ Bùi Hà Trang - cựu sinh viên K59 ngành Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (hiện là giảng viên Khoa Công nghiệp văn hoá và Di sản, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, Nhân học không phải là ngành học thuần túy hàn lâm như nhiều người vẫn nghĩ, mà có tính ứng dụng rõ nét, đặc biệt trong việc rèn luyện tư duy và phương pháp tiếp cận vấn đề.

Theo Thạc sĩ Bùi Hà Trang, giá trị cốt lõi mà người học nhận được trong quá trình theo học là khả năng nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt, đồng thời luôn đặt con người và các hiện tượng trong bối cảnh văn hoá - xã hội cụ thể. Nền tảng này giúp người học nhanh chóng thích nghi với nhiều môi trường làm việc khác nhau và phối hợp hiệu quả với các nhóm đối tượng đa dạng.

Không chỉ dừng lại ở tư duy, các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của Nhân học như điền dã, quan sát, phỏng vấn sâu còn trở thành những kỹ năng cốt lõi được vận dụng thường xuyên trong công việc. Quá trình đào tạo cũng góp phần rèn luyện khả năng lắng nghe chủ động, sự thấu cảm và tính kiên nhẫn trong giao tiếp.

Trong lĩnh vực nghiên cứu di sản, việc tiếp cận và làm việc chặt chẽ với cộng đồng địa phương là yêu cầu bắt buộc. Các phương pháp Nhân học cho phép lý giải các thực hành văn hoá từ góc nhìn của người trong cuộc, từ đó đưa ra những tham vấn có giá trị thực tiễn.

Ở khu vực tư nhân, những kỹ năng này tiếp tục phát huy hiệu quả khi giúp người làm nghề thấu hiểu khách hàng, nghiên cứu hành vi người dùng một cách bài bản thay vì dựa trên giả định, qua đó xây dựng các sản phẩm và giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế.

Theo Thạc sĩ Trang, những gì Nhân học mang lại không chỉ là kiến thức chuyên môn, mà còn là cách tiếp cận con người và thế giới, tạo nền tảng để làm việc hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

thuc-te.jpg
Sinh viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học (USSH) trong chuyến thực tế tại Sơn La.

Từ trải nghiệm thực tế trong thị trường lao động, Thạc sĩ Bùi Hà Trang cho rằng, bên cạnh việc nắm vững kiến thức nền tảng, sinh viên Nhân học cần chủ động rèn luyện ba nhóm kỹ năng quan trọng.

Thứ nhất là các kỹ năng mềm trong môi trường làm việc như hợp tác, làm việc nhóm, tư duy phản biện, giao tiếp và giải quyết vấn đề. Đây là những năng lực thiết yếu giúp sinh viên thích nghi với áp lực ngày càng cao và yêu cầu đa dạng của thị trường lao động.

Thứ hai là kỹ năng và tư duy liên ngành. Theo Thạc sĩ Trang, không phải tất cả sinh viên sau khi tốt nghiệp đều theo đuổi con đường nghiên cứu Nhân học, mà có thể làm việc trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, truyền thông, du lịch hay sáng tạo nội dung. Vì vậy, việc chủ động trang bị kiến thức và kỹ năng liên ngành sẽ giúp mở rộng cơ hội việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Cuối cùng là khả năng thích ứng với công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo. Bởi, việc chủ động nắm bắt và sử dụng hiệu quả các công cụ số sẽ trở thành lợi thế quan trọng giúp sinh viên nâng cao năng lực học tập, nghiên cứu và cạnh tranh trong công việc.

ĐÀO HIỀN