Theo định hướng quy hoạch mạng lưới, đến năm 2030, Việt Nam dự kiến hình thành thêm các đại học quốc gia tại Huế và Đà Nẵng.
Theo Luật Giáo dục đại học 2025, đại học quốc gia là cơ sở giáo dục đại học công lập, giữ vai trò trung tâm đào tạo chất lượng cao, phát triển nhân tài, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trọng điểm; thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quốc gia và được Nhà nước ưu tiên đầu tư.
Đồng thời, đây là lực lượng nòng cốt, trụ cột của hệ thống giáo dục đại học, dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu mũi nhọn, từng bước khẳng định vị thế trong khu vực và quốc tế.
Cuối tháng 3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học 2025.
Điểm đáng chú ý là các tiêu chí công nhận “đại học” tiếp tục được siết chặt, bổ sung yêu cầu cao hơn về công bố khoa học, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và quốc tế hóa.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên các điều kiện riêng đối với đại học quốc gia và đại học vùng được quy định một cách rõ ràng, tách bạch.
Theo quy định, cơ sở giáo dục đại học có thể được xem xét phát triển thành đại học quốc gia nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện.
Trước hết, cơ sở giáo dục đại học phải có đề án phát triển được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, quy hoạch vùng; đề án xác định sự cần thiết, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và lộ trình thực hiện.
Về tổ chức, cơ sở này phải có ít nhất 05 đơn vị là trường đại học thành viên đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo trình độ tiến sĩ hoặc trường thuộc đáp ứng các điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học quy định; và duy trì liên tục tối thiểu 3 năm.
Về đào tạo, phải tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học đối với các lĩnh vực khoa học tự nhiên, toán và thống kê, kỹ thuật, máy tính và công nghệ thông tin, khoa học xã hội và hành vi, nhân văn, kinh doanh và quản lý, sức khỏe;
Bên cạnh đó, cơ sở đề nghị công nhận còn phải đáp ứng các tiêu chí chung của một đại học theo quy định, như: quy mô người học từ 15.000 trở lên; đào tạo ít nhất 25 ngành tiến sĩ; tối thiểu 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ, trong đó có ít nhất 5% là giảng viên quốc tế. Tỷ lệ người học sau đại học đạt tối thiểu 20%, sinh viên quốc tế đạt tối thiểu 3%.
Ở lĩnh vực nghiên cứu, mỗi giảng viên phải có bình quân ít nhất 1 sản phẩm khoa học/năm (bài báo WoS/Scopus, sách, sáng chế...). Đặc biệt, nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải chiếm tối thiểu 20% tổng thu của cơ sở.
Đại học Quốc gia Hà Nội hiện có 29 đơn vị thành viên, trong đó 9 trường đại học thành viên, 3 trường trực thuộc, cùng nhiều viện nghiên cứu và đơn vị phục vụ.
Năm 2025, quy mô đào tạo trong toàn Đại học Quốc gia Hà Nội đạt gần 87.000 người học, trong đó có hơn 71.800 sinh viên, 7.511 học viên cao học và nghiên cứu sinh, 2.526 sinh viên quốc tế.
Xét theo yêu cầu mới, tỷ lệ sinh viên quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiệm cận ngưỡng 3%.
Tính đến nay, hệ thống đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội đã bao phủ đầy đủ các khối ngành, từ khoa học giáo dục, nghệ thuật đến khoa học tự nhiên, công nghệ, sức khỏe và khoa học xã hội. Trong đó, khoa học xã hội và nhân văn chiếm tỷ trọng lớn nhất (35%), tiếp đến là công nghệ thông tin (27,1%) và kinh doanh, quản lý (20,4%).
Toàn hệ thống có 162 chương trình đào tạo đại học chính quy, 160 chương trình thạc sĩ, 116 chương trình tiến sĩ - vượt xa yêu cầu tối thiểu 25 chương trình đào tạo tiến sĩ.
Đội ngũ nhân lực khoa học là một lợi thế rõ rệt. Đến năm 2025, Đại học Quốc gia Hà Nội có 2.819 giảng viên và 265 nghiên cứu viên cơ hữu; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 64,3%, vượt ngưỡng tối thiểu. Toàn hệ thống có 631 giáo sư, phó giáo sư và 1.881 tiến sĩ.
Trong lĩnh vực nghiên cứu, giai đoạn 2021-2025, đơn vị công bố hơn 10.500 bài WoS/Scopus, riêng năm 2025 đạt 2.402 bài, cùng 99 sáng chế, giải pháp hữu ích. Một số đơn vị có năng suất vượt chuẩn, đạt trên 1 công bố/giảng viên/năm, tiệm cận yêu cầu mới.
Thống kê kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia năm 2025 từ cơ sở dữ liệu Scopus, WoS của các đơn vị thành viên Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy:
Về số lượng công bố, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên dẫn đầu với 640 bài, bình quân đạt 1,3 công trình/giảng viên/năm. Trường Đại học Công nghệ đứng thứ hai với 415 công bố, song năng suất tính theo đầu giảng viên cao hơn, đạt 1,74 công trình/giảng viên/năm.
Đáng chú ý, Trường Quốc tế ghi nhận 383 công bố và cũng là đơn vị dẫn đầu toàn hệ thống về năng suất khoa học, với mức bình quân 2,99 công trình/giảng viên/năm. Xếp tiếp theo là Trường Đại học Y Dược với 191 công bố, bình quân 0,69 công trình/giảng viên/năm, và Trường Đại học Kinh tế với 188 công bố, đạt 0,94 công trình/giảng viên/năm.
Xét về lĩnh vực, trong 8 công nghệ ưu tiên, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn tiếp tục là mũi nhọn, với 454 công bố của Đại học Quốc gia Hà Nội, so với 5.001 công bố của cả nước. Tiếp đến là công nghệ môi trường và phát triển bền vững với 257 công bố (so với 1.633 của Việt Nam), và công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến với 169 công bố (so với 2.354 công bố toàn quốc).
Yếu tố quốc tế hóa là một trong những điểm mới trong quy định về điều kiện công nhận đại học (bao gồm cả đại học quốc gia, đại học vùng). Theo quy định mới, các đại học cần đảm bảo tỷ lệ giảng viên quốc tế đạt tối thiểu 5% và người học quốc tế tối thiểu 3%.
Hiện Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai 19 chương trình liên kết đào tạo quốc tế tại 6 đơn vị, gồm 9 chương trình cử nhân và 10 chương trình thạc sĩ. Năm 2025 tuyển sinh 1.443 người học vào các chương trình này.
Trong cùng năm, đơn vị tiếp nhận 2.250 lượt sinh viên, học viên quốc tế học tập dài hạn và ngắn hạn; đồng thời cử 83 lượt sinh viên đi trao đổi tại các nước như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp… Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đón 667 lượt chuyên gia, giảng viên quốc tế đến giảng dạy, nghiên cứu.
Trong khi đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 8 trường đại học thành viên và 1 phân hiệu tại tỉnh Bến Tre (cũ), cùng 20 đơn vị trực thuộc là các tổ chức khoa học và công nghệ, thư viện, các tổ chức phục vụ đào tạo, dịch vụ.
Năm 2025, quy mô đào tạo trong toàn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đạt trên 100.400 (100.451) sinh viên chính quy, khoảng 6.017 sinh viên theo hình thức vừa làm vừa học, đào tạo từ xa; 8.537 học viên cao học/bác sĩ chuyên khoa cấp I; 1.429 nghiên cứu sinh.
Hệ thống đào tạo của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã bao phủ rộng hầu hết các lĩnh vực, trong đó tập trung đông nhất ở công nghệ thông tin (19.712 người học), kỹ thuật (17.914) và kinh doanh, quản lý (11.738).
Toàn hệ thống có 159 lượt mã ngành đào tạo trình độ đại học (không bao gồm ngành trùng), 125 lượt mã ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, 85 lượt mã ngành đào tạo trình độ tiến sĩ (cũng vượt xa yêu cầu tối thiểu 25 ngành đào tạo tiến sĩ).
Năm 2024, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có 258 viên chức quản lý, 3809 viên chức giảng dạy và nghiên cứu, 2343 viên chức phục vụ giảng dạy và nghiên cứu; trong đó, 1617 viên chức có trình độ tiến sĩ.
Theo số liệu cập nhật đến ngày 30/7/2025, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có đội ngũ học giả với 360 giáo sư, phó giáo sư và 1.600 tiến sĩ.
Về nghiên cứu, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang là dẫn đầu cả nước về số lượng công bố quốc tế trong cơ sở dữ liệu Scopus với 3.288 bài; giai đoạn 2020-2025, số lượng công bố trong toàn đại học đạt 15.752 bài. Tỷ lệ bài báo quốc tế/tiến sĩ đạt 1,99, vượt yêu cầu bình quân. Năm 2025, doanh thu chuyển giao công nghệ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đạt 269,7 tỷ đồng.
Quốc tế hóa tiếp tục được đẩy mạnh với 36 chương trình liên kết đại học và 8 chương trình sau đại học; gần 300 giảng viên, chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu trong năm 2025. Đồng thời, hơn 1.100 lượt cán bộ được cử đi nước ngoài.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục cải thiện vị thế trên các bảng xếp hạng quốc tế. Theo bảng xếp hạng QS World 2026, đơn vị này đứng trong nhóm 801-850 thế giới, tăng hai bậc so với năm trước (nhóm 901-950), thuộc nhóm 53,4% đại học xuất sắc nhất toàn cầu.
Đáng chú ý, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh duy trì vị trí trong top 500 thế giới ở ba tiêu chí quan trọng: danh tiếng với nhà tuyển dụng xếp hạng 300 (dẫn đầu Việt Nam), danh tiếng học thuật xếp hạng 426 và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm xếp hạng 495 (đứng thứ hai trong nước).
Trên bảng xếp hạng THE World 2026, đơn vị này tiếp tục nằm trong nhóm 1501+ đại học hàng đầu thế giới. Ở cấp độ khu vực, theo QS Asia 2026, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 175, thuộc nhóm 11,4% các đại học xuất sắc nhất châu Á.
Trong giai đoạn tới, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng gấp ba lần số bài báo quốc tế, trong đó 30% công bố thuộc các tạp chí Q1 và 50% có đồng tác giả là người nước ngoài. Đồng thời, đơn vị phấn đấu nâng tỷ lệ học viên sau đại học lên tối thiểu 30% tổng quy mô, trong đó nghiên cứu sinh chiếm 40%.
Về nhân lực, mục tiêu đến năm 2030 là đạt 75% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Cùng với đó, chiến lược quốc tế hóa tiếp tục được đẩy mạnh, với mục tiêu tăng số lượng sinh viên quốc tế gấp 4 lần trong những năm tới.
Trong khi đó, Đại học Quốc gia Hà Nội duy trì đà tăng trưởng ổn định trên các bảng xếp hạng. Theo QS World 2026, đơn vị này đứng trong nhóm 761-770 thế giới và xếp hạng 158 tại châu Á. Các chỉ số về uy tín học thuật và uy tín với nhà tuyển dụng tiếp tục cải thiện, lần lượt xếp hạng 122 (tăng 14 bậc) và 128 (tăng 9 bậc).
Ở Bảng xếp hạng QS theo lĩnh vực, năm 2025, Đại học Quốc gia Hà Nội có thêm 06 lĩnh vực được xếp hạng, đưa tổng số lĩnh vực được xếp hạng lên 12 (trong đó có 10 lĩnh vực thuộc top 500). Các lĩnh vực Kỹ thuật & Công nghệ (451-500) và Khoa học Xã hội & Quản lý (501-550) tiếp tục giữ vị trí trong nhóm tốt của khu vực. Một số ngành đào tạo ghi nhận bước tiến rõ rệt, tiêu biểu như Toán học (301-350) và Kế toán - Tài chính (301-375). Ở Bảng xếp hạng đại học thế giới theo lĩnh vực của THE, Đại học Quốc gia Hà Nội có 08 lĩnh vực được xếp hạng.
Về định hướng phát triển, chiến lược giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu đến năm 2030, Đại học Quốc gia Hà Nội lọt top 100 châu Á và có ít nhất một nhóm ngành vào top 100 thế giới. Giai đoạn 2026-2030, đơn vị định hướng ổn định quy mô, tăng tỷ lệ đào tạo sau đại học và các ngành STEM, phát triển các chương trình tài năng, tinh hoa theo chuẩn quốc tế, hướng tới mô hình đại học nghiên cứu đa ngành, đẳng cấp quốc tế.
Song song đó, theo đề án nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu trong môi trường quốc tế, giai đoạn 2024-2025, Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu cử 100 giảng viên, nghiên cứu viên ra nước ngoài trao đổi học thuật; giai đoạn 2026-2030, con số này dự kiến tăng lên 300, từng bước hình thành đội ngũ khoa học đạt trình độ khu vực và quốc tế.
Như vậy, nhìn tổng thể, cả hai đại học quốc gia hiện nay đều đáp ứng vững nhiều tiêu chí cốt lõi về quy mô, lĩnh vực đào tạo và năng lực nghiên cứu. Tuy nhiên, khi chuẩn mực được nâng lên, yêu cầu không còn dừng ở việc “đạt” mà chuyển sang bài toán nâng chất lượng và hoàn thiện mô hình đại học nghiên cứu, gắn đào tạo với đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Việc siết chặt tiêu chuẩn vì thế trở thành lực đẩy cho quá trình tái cấu trúc. Trong bối cảnh đó, hai “đầu tàu” không chỉ cần giữ vị trí dẫn đầu, mà phải thể hiện rõ vai trò định hình chuẩn mực và tạo ra những đóng góp cụ thể cho phát triển kinh tế - xã hội.