Bộ GDĐT hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư PPP ở lĩnh vực giáo dục đào tạo

24/04/2026 06:26
Thúy Hiền

GDVN - Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thông tư gồm 4 chương, 15 điều. Trong đó hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là dự án PPP) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm: nội dung trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi; nội dung về phương pháp, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và mẫu hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (sau đây gọi là hợp đồng BOT).

Thông tư này không hướng dẫn nội dung trong hoạt động đầu tư theо phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên.

Làm rõ hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án bao gồm: giá trị hiện tại ròng kinh tế (ENPV); tỷ số lợi ích trên chi phí về kinh tế (BCR); tỷ suất nội hoàn kinh tế (EIRR). Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án thực hiện theo quy định tại mẫu số 01, mẫu số 02 Phụ lục I và mẫu số 01, mẫu số 02 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 243/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là Nghị định số 243/2025/NĐ-CP).

Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án giáo dục và đào tạo bao gồm các nhóm sau:

Nhóm các lợi ích có thể định lượng và quy đổi được thành tiền, bao gồm lợi ích do giảm chi phí vận hành công trình hạ tầng, cơ sở vật chất; lợi ích do tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại của giáo viên và học sinh; lợi ích do tiết kiệm chi phí y tế nhờ cải thiện điều kiện học tập và sinh hoạt của giáo viên và học sinh.

Nhóm các lợi ích có thể định lượng nhưng không định giá được, bao gồm lợi ích trong việc nâng cao tỷ lệ trẻ đến trường, giảm tỷ lệ học sinh nghỉ học; lợi ích trong việc nâng cao kết quả học tập của học sinh; lợi ích trong việc thu hút giáo viên và cán bộ giảng dạy, làm việc nhờ cải thiện cơ sở vật chất, công trình hạ tầng.

Nhóm các lợi ích chỉ có thể đo được bằng các chỉ tiêu định tính, bao gồm lợi ích do cải thiện trình độ giáo dục, nhận thức của người dân; lợi ích tăng cơ hội việc làm, và phát triển xã hội ở khu vực dự án nhờ dân trí được nâng cao; lợi ích trong việc giảm các tệ nạn xã hội hoặc tỷ lệ phạm tội, đặc biệt đối với trẻ em; lợi ích trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới; lợi ích đối với các em gái, phụ nữ và các nhóm yếu thế nhờ nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục.

Đơn vị chuẩn bị dự án có thể bổ sung các lợi ích khác ngoài các lợi ích nêu tại khoản 2 Điều này, đảm bảo phù hợp với loại hợp đồng, tính chất đặc thù của từng lĩnh vực, dự án và các quy định của pháp luật có liên quan.

Trường hợp không đủ điều kiện xác định các yếu tố lợi ích có thể định lượng và quy đổi được thành tiền để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án, có thể đánh giá về hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án trên cơ sở các nhóm yếu tố còn lại.

gemini-generated-image-7aji887aji887aji.png
Ảnh minh họa được tạo bởi Gemini.

Mức độ đáp ứng của công trình phải phù hợp với các quy định chuyên ngành

Chỉ số đánh giá chất lượng của công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng giáo dục và đào tạo do Doanh nghiệp dự án cung cấp (sau đây gọi là DNDA) bao gồm mức độ đáp ứng của hệ thống công trình hạ tầng phù hợp với các quy định chuyên ngành về thiết kế, xây dựng, khai thác, bảo trì và chất lượng sản phẩm, dịch vụ:

Mức độ đáp ứng yêu cầu về thiết kế hệ thống công trình hạ tầng, cơ sở vật chất giáo dục và đào tạo thực hiện theo các Quy chuẩn quốc gia được áp dụng tương ứng.

Mức độ đáp ứng chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì thực hiện theo quy định tại Điều 59 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 ngày 18 tháng 6 năm 2020 và Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng và quy định pháp luật về xây dựng.

Mức độ đáp ứng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp của dự án giáo dục đào tạo do DNDA cung cấp được tuân thủ theo hợp đồng dự án PPР.

Một số tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng, sản phẩm dịch vụ công được DNDA cung cấp trong Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Theo đó, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng, sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp dự án giáo dục và đào tạo cung cấp bao gồm mức độ đáp ứng của công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng phải phù hợp với các quy định chuyên ngành về thiết kế, xây dựng, khai thác, và bảo trì. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng cần đảm bảo các yếu tố bình đẳng giới, khả năng tiếp cận của trẻ em, phụ nữ và các nhóm đối tượng yếu thế.

Các phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá

Phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kỹ thuật được quy định tại điều 9, điều 10 được hướng dẫn cụ thể qua các phụ lục II và III của Thông tư này.

Về phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá về tài chính - thương mại, căn cứ quy mô, tính chất và loại hợp đồng dự án cụ thể, bên mời thầu phải xác định một trong bốn phương pháp để so sánh, xếp hạng nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về tài chính - thương mại như sau:

Thứ nhất, so sánh, xếp hạng dựa trên tiêu chuẩn giá, phí sản phẩm, dịch vụ công. Nhà đầu tư đề xuất giá, phí sản phẩm, dịch vụ công thấp nhất được xếp thứ nhất và được đề nghị trúng thầu.

Trường hợp nhà đầu tư thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì phải tính toán giá, phí sản phẩm, dịch vụ công của nhà đầu tư đó trước khi thực hiện bước xếp hạng nhà đầu tư theo công thức quy định tại Mục 26.3 CDNĐT Chương II Phần 1 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 98/2025/TT-BTC.

Thứ hai, so sánh, xếp hạng dựa trên tiêu chuẩn vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng (không áp dụng đối với dự án PPP có tiểu dự án sử dụng vốn đầu tư công theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 70 của Luật PPP).

Nhà đầu tư đề xuất vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng thấp nhất được xếp thứ nhất và được đề nghị trúng thầu. Trường hợp nhà đầu tư thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì phải tính toán giá trị vốn nhà nước hỗ trợ xây dựng của nhà đầu tư đó trước khi thực hiện bước xếp hạng nhà đầu tư theo công thức quy định tại Mục 26.3 CDNĐT Chương II Phần 1 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 98/2025/TT-BTС.

Thứ ba, so sánh, xếp hạng dựa trên tiêu chuẩn lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước. Nhà đầu tư đề xuất nộp ngân sách nhà nước cao nhất hoặc thời hạn hợp đồng ngắn nhất được xếp thứ nhất và được đề nghị trúng thầu.

Trường hợp nhà đầu tư thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì phải tính toán giá trị đề xuất nộp ngân sách nhà nước hoặc khoảng thời hạn hợp đồng của nhà đầu tư đó trước khi thực hiện bước xếp hạng nhà đầu tư theo công thức quy định tại Mục 26.3 CDNĐT Chương II Phần 1 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 98/2025/TT-ВТС.

Thứ tư, so sánh, xếp hạng dựa trên các tiêu chuẩn kết hợp thực hiện theo quy định tại điểm 4.2.4 khoản 4 Mục 4 Phần 1 Chương III Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 98/2025/TT-BTC.

Xem chi tiết Thông tư TẠI ĐÂY.

Thúy Hiền