Dạy học sinh sáng tạo video, “sổ tay lịch sử”, giáo viên biến môn học khô khan trở nên sống động

28/04/2026 06:43
Phương Thảo

GDVN- Ứng dụng AI và đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên không chỉ “làm sống lại” lịch sử mà còn giúp học sinh chủ động khám phá thay vì học thuộc lòng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực giáo dục, việc dạy và học môn Lịch sử không còn dừng lại ở những trang sách hay cách truyền đạt một chiều. Nhiều giáo viên đã chủ động đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ như xây dựng video ngắn, sử dụng bản đồ số hay triển khai lớp học đảo ngược...

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã ghi nhận những chia sẻ của một số giáo viên về hành trình đưa lịch sử đến gần hơn với học sinh trong thời đại số.

Áp dụng linh hoạt nhiều phương pháp, học sinh chuyển từ trạng thái "phải học" sang "muốn học"

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo ưu tú Lương Xuân Thà - giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học cơ sở An Ninh (xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên) chia sẻ, việc ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu của giáo dục hiện đại.

Theo thầy Thà, đối với môn Lịch sử, sự đổi mới này trước hết góp phần phá bỏ định kiến lâu nay về một môn học khô khan, nặng tính ghi nhớ. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ như sử dụng mô hình 3D hay thực tế ảo (VR), phim tài liệu, học sinh không còn phải hình dung các sự kiện lịch sử qua những dòng chữ đơn điệu, mà có thể “trực tiếp” quan sát, lắng nghe và cảm nhận không gian lịch sử một cách sinh động. Sự tương tác đa giác quan này giúp học sinh chuyển từ trạng thái "phải học" sang "muốn học".

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ còn tạo điều kiện phát triển tư duy phản biện cho học sinh. Thay vì chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ mốc thời gian hay sự kiện bằng câu hỏi “sự kiện diễn ra khi nào?”, giáo viên có thể khai thác các công cụ tương tác để đặt ra những câu hỏi mang tính phân tích, lý giải như “tại sao sự kiện lại diễn ra như vậy?”. Đồng thời, giáo viên cũng đóng vai trò định hướng, giúp học sinh biết cách tra cứu, chọn lọc và kiểm chứng thông tin, từ đó phân biệt giữa sự thật lịch sử với những nội dung sai lệch trên không gian mạng.

Không chỉ vậy, đối với học sinh “gen Alpha” (sinh sau năm 2010) lớn lên cùng công nghệ, việc hướng dẫn học sinh sử dụng các nền tảng như Quizizz, Kahoot hay triển khai các dự án podcast, video ngắn đã giúp môn Lịch sử trở nên gần gũi, phù hợp hơn với ngôn ngữ và thói quen tiếp nhận của các em. Khi tự tay thực hiện những sản phẩm như video về di tích địa phương bằng thiết bị cá nhân, học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn hình thành tình cảm, niềm tự hào dân tộc một cách tự nhiên và bền vững.

z7763010887450-b0b675bb2186e1a0a44a0e106cdb9b92.jpg
Thầy Lương Xuân Thà và học sinh Trường Trung học cơ sở An Ninh (xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên) trong một giờ học Lịch sử. Ảnh: NVCC.

Để đưa lịch sử đến gần hơn với thế hệ công dân số, thầy Thà đang tập trung triển khai nhiều nhóm phương pháp dạy học theo hướng đổi mới, lấy học sinh làm trung tâm và tăng cường trải nghiệm thực tiễn.

Cụ thể là tổ chức học tập qua dự án, thay vì yêu cầu học sinh làm bài viết truyền thống, thầy Thà hướng dẫn học sinh sáng tạo sản phẩm như video ngắn về nhân vật lịch sử theo phong cách TikTok/Reels, hoặc thiết kế infographic bằng Canva; dùng Capcut để dựng phim, ứng dụng AI để phục dựng hình ảnh tư liệu cũ. Quá trình tiếp xúc với tư liệu, tự tay xây dựng sản phẩm giúp học sinh ghi nhớ sâu sắc và có ý nghĩa hơn.

“Bên cạnh đó, tôi cũng áp dụng linh hoạt phương pháp nhập vai và mô phỏng nhằm tạo ra môi trường học tập sinh động. Lớp học có thể được “biến hóa” thành phòng hội nghị hay một “tòa án lịch sử”, nơi học sinh tham gia tranh luận, đưa ra quan điểm và bảo vệ lập luận của mình. Với sự hỗ trợ của các nền tảng tương tác, các hoạt động như trưng cầu ý kiến trực tiếp được tổ chức ngay trong giờ học, góp phần tạo nên không khí sôi nổi, tăng tính tham gia và kết nối giữa các học sinh.

Ở phần củng cố kiến thức, tôi sử dụng phương pháp “chơi mà học” (gamification), biến lớp học thành gameshow truyền hình qua việc trả lời các câu hỏi về nội dung bài học bằng phần mềm Quizizz, Kahoot hoặc Blooket.

Ngoài ra, việc khai thác bản đồ số và bảo tàng ảo cũng mở ra những trải nghiệm học tập trực quan mà sách giáo khoa khó có thể mang lại. Thông qua các công cụ số, học sinh có thể quan sát địa hình các trận đánh, khám phá hiện vật lịch sử dưới góc nhìn 360 độ, từ đó hiểu sâu hơn mối liên hệ giữa lịch sử và không gian địa lý", thầy Thà chia sẻ.

Cùng chia sẻ về nội dung này, cô Nông Thị Ngọc - Tổ trưởng chuyên môn Tổ Khoa học xã hội, Trường Trung học cơ sở Trần Duy Hưng (phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội) cho biết, để giúp học sinh tiếp cận lịch sử một cách trực quan, sinh động, đồng thời phát triển tư duy phản biện, trong giờ dạy, cô Ngọc chú trọng áp dụng các phương pháp như dạy học theo dự án, dạy học qua tình huống, sử dụng sơ đồ tư duy, tổ chức hoạt động nhóm, trò chơi học tập.

Bên cạnh đó, tích hợp công nghệ thông qua bài giảng điện tử, video lịch sử, bản đồ số và phần mềm trình chiếu. Việc ứng dụng công nghệ được thực hiện linh hoạt, phù hợp với từng nội dung bài học, nhằm tăng tính tương tác và hiệu quả tiếp nhận của học sinh.

Cũng theo chia sẻ của cô Ngọc, trong quá trình xây dựng các video hoặc bài giảng số về Lịch sử, khó khăn lớn nhất mà cô gặp phải là việc tìm kiếm nguồn tư liệu chính xác, xử lý các yếu tố kỹ thuật cũng như quỹ thời gian để đầu tư xây dựng nội dung một cách chỉn chu.

“Để khắc phục những trở ngại này, tôi chủ động tự bồi dưỡng kỹ năng công nghệ, cũng như chú trọng lựa chọn, kiểm chứng các nguồn tài liệu uy tín và phối hợp với đồng nghiệp để chia sẻ học liệu.

Từ thực tế triển khai, tôi đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía học sinh. Các em thể hiện sự hứng thú rõ rệt hơn với môn học, chủ động tham gia vào các hoạt động trên lớp, đồng thời khả năng ghi nhớ kiến thức và liên hệ với thực tiễn cũng được cải thiện đáng kể”, cô Ngọc cho hay.

image6138.png
Tiết học chuyên đề "Ứng dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử lớp 6" tại Trường Trung học cơ sở Trần Duy Hưng (phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội). Ảnh: website nhà trường.

Còn tại Trường Trung học cơ sở Lê Lợi (phường Hà Đông, thành phố Hà Nội), theo cô Lê Minh Nguyệt - hiệu trưởng nhà trường thông tin, đội ngũ giáo viên dạy Lịch sử của trường đã và đang tích cực triển khai nhiều phương pháp giảng dạy sáng tạo, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao hứng thú học tập của học sinh.

Trong đó, nổi bật là việc áp dụng phương pháp lớp học đảo ngược, học sinh sẽ chủ động tìm hiểu trước nội dung bài học tại nhà thông qua các học liệu đa phương tiện, còn thời gian trên lớp được dành cho thảo luận, phân tích và nhìn nhận sự kiện dưới nhiều góc độ. Điều này giúp chuyển vai trò của học sinh từ tiếp nhận thụ động sang chủ động khám phá, đồng thời tăng cường vai trò định hướng, dẫn dắt của giáo viên trong quá trình học tập.

Mặt khác, giáo viên cũng chủ động ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giảng dạy. Nhiều nội dung lịch sử quan trọng như các cuộc khởi nghĩa, những trận đánh tiêu biểu hay các dấu mốc lớn của dân tộc được tái hiện bằng hình ảnh 3D sinh động. Qua đó, học sinh có thể quan sát một cách trực quan, dễ hiểu hơn về các sự kiện lịch sử như chiến thắng trên sông Bạch Đằng, các cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, hay chiến thắng Điện Biên Phủ,...

“Đặc biệt, giáo viên còn khuyến khích học sinh thiết kế “sổ tay Lịch sử”, đây là một trong những điểm nhấn ý nghĩa nhất trong dạy học môn Lịch sử của nhà trường hiện nay. Theo đó, mỗi học sinh sẽ tự ghi chép lại nội dung bài học trong một cuốn sổ riêng, được sắp xếp theo chủ đề, giai đoạn, sự kiện và các dữ liệu lịch sử quan trọng.

Hoạt động này không dừng lại ở việc ghi chép thông thường, mà hướng tới việc rèn luyện tư duy hệ thống, giúp học sinh chủ động tổ chức và diễn đạt lại kiến thức theo cách hiểu của mình. Nhờ vậy, các em có thể ghi nhớ sâu hơn, đồng thời hạn chế lối học thuộc lòng máy móc, thụ động”, cô Nguyệt chia sẻ.

thiet-ke-chua-co-ten-1.png
Một số hoạt động dạy học môn Lịch sử tại Trường Trung học cơ sở Lê Lợi (phường Hà Đông, thành phố Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Ứng dụng công nghệ trong dạy Lịch sử cần lưu ý đảm bảo tính chính xác của dữ liệu và thông tin

Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số giáo dục, việc giáo viên chủ động xây dựng các bài giảng số, video lịch sử đang mở ra những cách tiếp cận mới mẻ, giàu sức hấp dẫn với học sinh. Song cũng đặt ra yêu cầu cao về mặt kỹ thuật và đảm bảo tính chính xác của tri thức lịch sử.

Theo thầy Lương Xuân Thà chia sẻ, hành trình “thổi hồn” vào các bài giảng lịch sử không chỉ đòi hỏi sự đầu tư lớn về công sức và chất xám, mà còn cần sự kiên trì để đạt được hiệu quả giáo dục thực chất.

"Khó khăn đầu tiên là sự thiếu hụt tư liệu hình ảnh chất lượng. Nhiều hình ảnh lịch sử cũ thường mờ, hiếm và khó tiếp cận, đòi hỏi giáo viên cần chủ động tìm thêm từ các nguồn lưu trữ quốc tế, đồng thời kết hợp ứng dụng công nghệ để phục chế, tái hiện bằng mô phỏng 3D. Ngoài ra, bài giảng cũng cần được đảm bảo sự cân bằng giữa yếu tố hấp dẫn và tính hàn lâm của nội dung. Nếu quá chú trọng tính giải trí, bài giảng dễ mất đi chiều sâu; ngược lại, nếu quá nặng kiến thức, học sinh sẽ khó tiếp nhận.

Do đó, tôi đã áp dụng nguyên tắc “3 phút vàng” trong thiết kế nội dung bài học, mỗi video chỉ kéo dài khoảng 3-5 phút, tập trung vào một nút thắt hoặc điểm nhấn của sự kiện lịch sử nhằm kích thích tư duy và tạo hứng thú học tập cho học sinh. Việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử không chỉ cải thiện kết quả học tập của học sinh, mà điều đáng ghi nhận hơn chính là sự tự tin và niềm hứng thú khi các em sẵn sàng thuyết trình, chia sẻ về lịch sử quê hương bằng tất cả lòng tự hào”, thầy Thà cho biết.

Mặt khác, trước sự xuất hiện ngày càng nhiều của các sản phẩm lịch sử được tạo dựng bằng công nghệ AI, thầy Thà cho rằng đây là một bài toán cân não giữa “nghệ thuật truyền tải” và “đạo đức sử học”.

Theo quan điểm của thầy Thà: “Công nghệ chỉ nên được xem là “cánh cửa” để tiếp cận, còn sự thật lịch sử mới là “ngôi nhà” cần bảo vệ. Để giữ được sự cân bằng này, giáo viên luôn phân định rõ ràng giữa hình ảnh minh họa và tư liệu gốc, giúp học sinh nhận thức được đâu là sản phẩm mô phỏng, đâu là bằng chứng lịch sử.

Tựu trung, AI có thể là một “người kể chuyện” hấp dẫn, nhưng người giáo viên phải giữ vai trò “người gác cổng” của sự thật lịch sử. Việc tận dụng yếu tố mô phỏng để làm nổi bật giá trị của sự thật chính là mục tiêu cao nhất của đổi mới dạy học trong thời đại số. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ là để hiện đại hóa phương pháp, nhưng chính tâm huyết và trách nhiệm nghề nghiệp mới là yếu tố quyết định trong việc gìn giữ và lan tỏa những giá trị nhân văn cốt lõi của môn Lịch sử.

Tuy nhiên, có thể tận dụng AI như một công cụ để rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh bằng việc so sánh hình ảnh do AI tạo ra với hiện vật hoặc tư liệu xác thực để học sinh tự phát hiện những điểm chưa chính xác, từ đó hiểu sâu hơn về yêu cầu nghiêm ngặt của tính chân thực trong lịch sử”.

z7763010890990-471b42bc4d1ae5c5addf16e19557dd92.jpg
Học sinh Trường Trung học cơ sở An Ninh củng cố kiến thức lịch sử thông qua trả lời câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm. Ảnh: NVCC.

Đồng quan điểm, cô Nông Thị Ngọc cho rằng, việc cân bằng giữa tính hấp dẫn và độ chính xác khi giảng dạy Lịch sử trong bối cảnh công nghệ AI ngày càng phát triển là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với mỗi giáo viên.

Theo đó, nội dung bài giảng cần được xây dựng trên cơ sở các nguồn tư liệu chính thống, có kiểm chứng rõ ràng. Khi sử dụng hình ảnh, video hay các sản phẩm công nghệ, bao gồm cả nội dung do AI tạo ra, giáo viên phải có sự chọn lọc, thẩm định kỹ lưỡng, đồng thời định hướng để học sinh nhận diện được đâu là thông tin chính xác, đâu là yếu tố mô phỏng. Tính hấp dẫn là cần thiết, nhưng phải luôn song hành với tính khoa học, tuyệt đối không làm sai lệch bản chất lịch sử.

Cũng theo cô Ngọc, để dạy học Lịch sử hiệu quả trong thời đại số, giáo viên cần được trang bị một hệ thống năng lực toàn diện. Trước hết là nền tảng chuyên môn vững vàng, làm cơ sở đảm bảo tính chính xác của nội dung giảng dạy. Bên cạnh đó, giáo viên cần thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin và thích ứng với quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, bao gồm khả năng thiết kế bài giảng số, xây dựng học liệu số phù hợp với người học.

“Không dừng lại ở đó, kỹ năng tổ chức các hoạt động học tập tích cực cũng đóng vai trò quan trọng, giúp học sinh chủ động tham gia và phát huy tư duy. Đồng thời, giáo viên cần duy trì năng lực tự học, sẵn sàng đổi mới sáng tạo để bắt kịp với yêu cầu của thực tiễn giáo dục hiện đại. Đặc biệt, tinh thần trách nhiệm trong việc định hướng nhận thức lịch sử đúng đắn cho học sinh là yếu tố cốt lõi, đảm bảo việc đổi mới phương pháp luôn đi đúng hướng và mang lại giá trị giáo dục bền vững”, cô Ngọc nhấn mạnh.

Phương Thảo