Thi tốt nghiệp THPT: Giáo viên chỉ ra kỹ năng cần thiết để học sinh đạt trên 8 điểm môn Lịch sử

30/04/2026 06:39
Hồng Mai

GDVN - Để đạt điểm cao môn Lịch sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, theo giáo viên, học sinh cần tránh ghi nhớ kiến thức rời rạc và đọc kỹ đề trước khi làm bài.

Chỉ còn hơn một tháng nữa kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 sẽ diễn ra. Đây là giai đoạn “nước rút” để học sinh tăng tốc ôn tập, củng cố kiến thức và hoàn thiện kỹ năng làm bài.

Đối với môn Lịch sử, từ thực tế giảng dạy, một số giáo viên cho rằng, việc nắm chắc kiến thức, nhận diện những lỗi sai thường gặp và áp dụng chiến thuật làm bài phù hợp là yếu tố quan trọng giúp thí sinh cải thiện điểm số môn thi này.

Học sinh có thể dựa vào đề thi minh họa và đề thi chính thức năm 2025 để ôn tập

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Phạm Thị Ái Vân - giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học phổ thông Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (thành phố Đà Nẵng) cho hay, căn cứ vào đề minh họa và đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Lịch sử năm 2025, đề thi năm 2026 dự kiến giữ ổn định cấu trúc với hai phần: phần I là trắc nghiệm nhiều lựa chọn (24 câu, trong đó có một “chùm câu hỏi” gồm 3 câu) và phần II là trắc nghiệm đúng/sai (4 câu).

Đề thi bao gồm ba cấp độ tư duy: nhận biết, thông hiểu và vận dụng; trong đó khoảng 70% câu hỏi ở mức nhận biết, thông hiểu và 30% ở mức vận dụng, nhằm kiểm tra, đánh giá 3 nhóm năng lực đặc thù của bộ môn, gồm: tìm hiểu lịch sử, nhận thức - tư duy lịch sử và khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học.

Với dạng câu hỏi đúng/sai, mỗi câu gồm 4 ý tương ứng các mức độ tư duy khác nhau. Thí sinh cần xác định chính xác từng ý, bởi chỉ một sai sót cũng khiến mất điểm chuỗi. Điều này đòi hỏi học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phải có kỹ năng vận dụng và làm bài trắc nghiệm hiệu quả.

Tương tự đề thi năm 2025, đề thi môn Lịch sử năm nay nhiều khả năng tiếp tục tập trung vào một số dạng câu hỏi trọng tâm.

Đầu tiên là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh khai thác thông tin và xử lý sử liệu, như đoạn trích văn kiện Đảng, tư liệu gốc, hình ảnh hoặc bảng số liệu. Các em không chỉ đọc mà cần phân tích bối cảnh của đoạn tư liệu, xác định quan điểm, đánh giá tính khách quan và kết nối với kiến thức đã học để trả lời câu hỏi trong đề thi.

Thứ hai là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh hiểu bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử, đồng thời cần có tư duy hệ thống, khả năng phản biện và đánh giá một vấn đề/ chủ đề lịch sử trong mối quan hệ tác động của yếu tố khách quan và chủ quan, thay vì sự kiện riêng lẻ.

Thứ ba là dạng câu hỏi so sánh các vấn đề, nội dung lịch sử. Ví dụ, so sánh điểm giống nhau/khác nhau của các nghị quyết hội nghị, vấn đề thời cơ trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 với Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 ở Việt Nam…

Thứ tư là dạng câu hỏi về mối quan hệ nhân - quả (chẳng hạn tại sao sự kiện A dẫn đến sự kiện B? Bản chất của sự chuyển biến đó là gì?...).

Tiếp đó là dạng câu hỏi vận dụng, yêu cầu học sinh liên hệ kiến thức lịch sử để giải thích các vấn đề lịch sử đương đại như quá trình, thành tựu của công cuộc đổi mới, hội nhập của Việt Nam, các xu thế phát triển của thế giới hiện nay…

img-7794.jpg
Cô Phạm Thị Ái Vân - giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học phổ thông Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ảnh: NVCC

Với những lỗi học sinh thường mắc phải trong bài thi môn Lịch sử, cô Nguyễn Thị Thu Hòa - Phó Hiệu trưởng, giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn (tỉnh Hà Tĩnh) cho hay: “Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh thường gặp một số hạn chế khi làm bài.

Hạn chế phổ biến nhất là việc nhiều em ghi nhớ kiến thức rời rạc, dẫn đến nhầm lẫn mốc thời gian và sự kiện. Bên cạnh đó, không ít học sinh đọc chưa kỹ yêu cầu của đề, dễ bỏ qua các từ khóa quan trọng như “chủ yếu”, “quan trọng”, “không”, “đúng”, từ đó lựa chọn đáp án sai.

Một điểm khác cần lưu ý là một số học sinh chưa nắm vững bản chất vấn đề lịch sử, dẫn đến nhầm lẫn giữa các khái niệm như nguyên nhân - kết quả, ý nghĩa - bài học, kháng chiến - khởi nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc - chiến tranh giải phóng dân tộc, hay hoạt động ngoại giao - mặt trận ngoại giao.

Ngoài ra, nhiều học sinh còn thiếu kỹ năng phân tích, loại trừ đáp án, làm bài theo cảm tính, không kiểm tra lại trước khi chọn phương án.

Bên cạnh đó, tâm lý vội vàng, thiếu tự tin hoặc phân bổ thời gian chưa hợp lý cũng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả bài thi”.

Từ đó, cô Hòa cho rằng, học sinh vẫn cần bổ sung một số kỹ năng quan trọng để nâng cao điểm số trong bài thi môn Lịch sử.

Trước hết là kỹ năng nhận diện “bẫy” trong đề thi. Nhiều phương án có nội dung tương tự, chỉ khác một chi tiết nhỏ như mốc thời gian, lực lượng hay phạm vi. Vì vậy, học sinh cần đọc kỹ từng phương án, tránh lựa chọn theo “cảm giác quen” nhưng sai bản chất.

Thay vì chọn theo cảm tính, học sinh cần vận dụng kiến thức để so sánh, liên hệ và khái quát vấn đề, từ đó xác định đáp án đúng và kiểm tra lại các phương án còn lại.

Tiếp đó là kỹ năng xác định nhanh từ khóa trong câu hỏi. Với các câu hỏi dài, đặc biệt ở dạng trắc nghiệm đúng/sai, học sinh cần gạch chân các từ khóa quan trọng về thời kỳ, sự kiện, yêu cầu đề để tránh nhiễu thông tin, đồng thời xác định đúng mối liên hệ giữa dữ kiện và yêu cầu câu hỏi.

Cuối cùng, học sinh cần phân bổ thời gian hợp lý, ưu tiên làm chắc câu dễ, giữ nhịp làm bài ổn định và dành vài phút cuối để rà soát, tránh sai sót khi tô đáp án hoặc bỏ sót dữ kiện.

img-7792.jpg
Cô Nguyễn Thị Thu Hòa - Phó Hiệu trưởng, giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Ảnh: NVCC

Trong khi đó, thầy Chu Văn Đường - Tổ trưởng chuyên môn tổ Sử, Địa, Giáo dục thể chất, giáo viên môn Lịch sử, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Chí Thanh (tỉnh Đắk Lắk) nhấn mạnh, kỹ năng đọc - hiểu đề bài giữ vai trò then chốt trong bài thi môn Lịch sử, đặc biệt khi đề thi thường sử dụng các từ phủ định hoặc từ hạn định như “không”, “chủ yếu”, “quan trọng nhất”, “quyết định”….

Nếu không đọc kỹ, học sinh dễ chọn đáp án đúng về mặt kiến thức nhưng sai yêu cầu câu hỏi. Việc đọc hiểu nhanh, chính xác giúp thí sinh xác định đúng trọng tâm, loại trừ phương án nhiễu và tiết kiệm thời gian cho các câu vận dụng.

Để rèn luyện kỹ năng này, học sinh cần thực hiện theo quy trình rõ ràng. Trước hết, xác định và gạch chân từ khóa về thời gian, không gian và mức độ câu hỏi để tránh nhầm lẫn. Đồng thời, cần nhận diện các dạng câu hỏi phổ biến như câu hỏi phủ định, câu hỏi so sánh hoặc câu hỏi yêu cầu nhận xét, rút ra bài học.

Đối với dạng câu hỏi phủ định, thường xuất hiện các từ như “không phải”, “ngoại trừ”... học sinh cần chú ý tránh nhầm lẫn.

Với dạng câu hỏi tìm điểm chung hoặc khác biệt, thí sinh cần vận dụng kỹ năng so sánh giữa các sự kiện, phong trào để xác định chính xác nội dung.

Dạng câu hỏi nhận xét hoặc rút ra bài học thuộc mức độ vận dụng cao, đòi hỏi học sinh hiểu bản chất vấn đề thay vì chỉ ghi nhớ dữ kiện.

Bên cạnh đó, phương pháp loại trừ là công cụ hiệu quả khi làm bài. Học sinh nên loại bỏ các phương án sai về mốc thời gian, các đáp án mang tính tuyệt đối khi chưa đủ cơ sở, hoặc những phương án đúng về kiến thức nhưng không trả lời đúng trọng tâm câu hỏi.

Với các câu hỏi vận dụng trong môn Lịch sử, học sinh cần tiếp cận theo hướng tư duy logic, tránh suy luận cảm tính. Đây không chỉ là dạng câu hỏi kiểm tra trí nhớ mà chủ yếu đánh giá khả năng phân tích và kết nối kiến thức.

Trước hết, học sinh cần xác định rõ “tọa độ thời gian” và từ khóa trọng tâm. Việc khoanh vùng giai đoạn lịch sử giúp học sinh tránh nhầm lẫn về bối cảnh, đồng thời nhận diện chính xác các yêu cầu như “quyết định”, “trực tiếp”, “cơ bản”… để không chọn sai bản chất. Tiếp đó, thí sinh cần tập trung vào bản chất vấn đề thay vì hiện tượng. Các câu hỏi vận dụng thường đưa ra những nhận định nghe có vẻ rất đúng nhưng lại không phải là bản chất của vấn đề.

Để đạt trên 8 điểm môn Lịch sử, học sinh cần trang bị những kỹ năng gì?

Để thí sinh phân bổ thời gian hợp lý khi làm bài, thầy Chu Văn Đường cho rằng, các em nên tập trung làm chắc phần câu hỏi cơ bản (từ câu 1 đến câu 24) trong khoảng 25 phút. Đối với phần trắc nghiệm đúng/sai (từ câu 25 đến câu 28), học sinh nên dành khoảng 20 phút để đọc kỹ, phân tích từng mệnh đề và tránh sai sót. 5 phút cuối là thời gian quan trọng để rà soát bài làm, kiểm tra lại đáp án và hoàn thiện bài thi.

Trước kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thầy Đường khuyến nghị học sinh: “Bên cạnh việc chuẩn bị kỹ càng về kiến thức, học sinh cần giữ sự bình tĩnh, tránh tự tạo áp lực quá lớn cho bản thân dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe và kết quả thi.

Trong những ngày cận thi, các em không nên học nhồi nhét mà cần ưu tiên ôn tập nhẹ nhàng, đảm bảo nghỉ ngơi hợp lý để duy trì trạng thái tỉnh táo. Trong phòng thi, thí sinh nên áp dụng nguyên tắc “dễ trước, khó sau”, đọc kỹ các từ khóa và không bỏ trống câu hỏi”.

img-7795-5314.jpg
Thầy Đường hướng dẫn học sinh ôn tập môn Lịch sử. Ảnh: NVCC

Với kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Lịch sử, cô Phạm Thị Ái Vân chia sẻ, học sinh muốn đạt trên 8 điểm môn thi này cần rèn luyện một số nhóm kỹ năng trọng tâm.

Trước hết là kỹ năng hệ thống hóa kiến thức theo chủ đề, giai đoạn và logic phát triển. Mỗi vấn đề, sự kiện hay giai đoạn lịch sử cần được tóm lược bằng các từ khóa, đặc điểm cốt lõi, qua đó giúp ghi nhớ và ôn tập hiệu quả theo các chủ đề xuyên suốt.

Bên cạnh đó, học sinh cần rèn kỹ năng xâu chuỗi, kết nối và so sánh các sự kiện, nội dung lịch sử. Việc nắm được logic phát triển của các vấn đề lớn như những cuộc kháng chiến, quá trình đổi mới hay hội nhập quốc tế, đồng thời liên hệ giữa lịch sử Việt Nam với khu vực và thế giới, sẽ giúp các em hiểu sâu bản chất.

Ngoài ra, học sinh cần rèn luyện kỹ năng xử lý số liệu, ghi nhớ logic và giải quyết vấn đề. Các em cần biết khai thác thông tin từ bảng số liệu, xác định tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ phần trăm, cũng như nắm chắc các “mốc thời gian bản lề” thay vì ghi nhớ dàn trải, từ đó nâng cao hiệu quả làm bài. Ví dụ, năm nào Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc? Năm nào Việt Nam gia nhập ASEAN?....

Kỹ năng đọc hiểu và tư duy phản biện giữ vai trò quan trọng trong việc xử lý các câu hỏi đúng/sai, vì ở phần này đề thi thường sử dụng tư liệu ngoài sách giáo khoa. Học sinh cần xác định đúng từ khóa, phân biệt sự kiện với nhận định đánh giá của tác giả, đồng thời nhận diện bối cảnh lịch sử và tránh các “bẫy” ngôn từ (câu hỏi mức độ phân hóa thường dùng từ ngữ tuyệt đối (duy nhất, chỉ có, hoàn toàn... hoặc hoán đổi nguyên nhân - kết quả…).

Trong khi đó, theo cô Nguyễn Thị Thu Hòa để việc ôn tập môn Lịch sử của học sinh đạt hiệu quả cao, các em cần ôn tập có hệ thống và gắn với kỹ năng làm bài. Trong bối cảnh tài liệu và công cụ học tập ngày càng phong phú, học sinh cần xác định rõ sách giáo khoa và luyện đề theo cấu trúc và yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2025 là trục kiến thức cốt lõi. Các tài liệu tham khảo, bài giảng trực tuyến hay phần mềm luyện thi chỉ đóng vai trò hỗ trợ.

Để nâng cao hiệu quả tự học, học sinh cần áp dụng phương pháp học chủ động theo quy trình: tự hệ thống kiến thức - tự làm bài - tự đánh giá. Cụ thể, các em nên ưu tiên các chuyên đề trọng tâm, đồng thời hệ thống hóa kiến thức theo trục thời gian, sơ đồ hoặc bảng so sánh, xác định từ khóa để nắm bản chất và mối liên hệ giữa các sự kiện, tránh học dàn trải.

Sau mỗi đề, học sinh cần phân tích kỹ câu sai, xác định nguyên nhân để điều chỉnh phương pháp học; tận dụng giờ ôn tập trên lớp để củng cố kiến thức và khắc phục lỗi thường gặp.

Ngoài ra, học sinh có thể sử dụng công cụ AI như một trợ lý hỗ trợ hệ thống hóa kiến thức, tạo câu hỏi và kiểm tra mức độ ghi nhớ, nhưng cần tuân thủ nguyên tắc “tự làm trước - đối chiếu sau”, tránh lệ thuộc.

“Hiệu quả ôn tập không nằm ở số lượng mà ở việc học đúng trọng tâm, luyện tập có phương pháp và sử dụng công cụ phù hợp, qua đó nâng cao khả năng làm bài và hướng tới kết quả cao trong kỳ thi", cô Hòa khẳng định.

Hồng Mai