Hiệu trưởng, hiệu phó được phụ cấp chức vụ lại "dễ" đạt tiêu chuẩn nhà giáo hạng 1, 2 có công bằng?

22/05/2026 06:42
Mỹ Tiên

GDVN - Nguyên tắc trả lương theo vị trí việc làm là khi giữ chức vụ thì hưởng lương theo chức vụ, khi thôi chức vụ phải quay về mức lương tương ứng vị trí mới.

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang từng bước hoàn thiện cơ chế tiền lương và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, câu chuyện về sự chồng chéo chế độ giữa phụ cấp chức vụ, giảm định mức tiết dạy và việc bổ nhiệm hạng chức danh nghề nghiệp đang đặt ra nhiều tranh luận.

Đặc biệt, khi hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hay tổ trưởng, tổ phó chuyên môn vừa được hưởng phụ cấp chức vụ, vừa được giảm tiết, lại có xu hướng được ưu tiên bổ nhiệm hạng I, II, thì vấn đề công bằng, hợp lý và hiệu quả chính sách cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. Nếu không điều chỉnh, chính sách có thể tạo ra sự bất bình đẳng ngay trong nội bộ nhà trường nơi đáng lẽ phải là môi trường đề cao minh bạch và cống hiến thực chất.

anh-minh-hoa-giaoducnetvn.jpg
Ảnh minh họa

Định mức, giảm định mức tiết dạy và chế độ phụ cấp đã có nhiều ưu đãi cho cán bộ quản lý và tổ chuyên môn

Mỗi giáo viên được thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo định mức tiết dạy và các công việc khác theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo như giáo viên tiểu học 23 tiết/tuần (35 phút/tiết), giáo viên trung học cơ sở 19 tiết/tuần, giáo viên trung học phổ thông 17 tiết/tuần (45 phút/tiết).

Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn hiện nay vẫn hưởng ngạch lương (theo hạng) giống như giáo viên, chưa có bảng lương phân biệt giữa vị trí việc làm cán bộ quản lý, giáo viên.

Theo quy định hiện hành, cán bộ quản lý trường học và đội ngũ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn đang được hưởng đồng thời nhiều chế độ ưu đãi nhằm đảm bảo điều kiện thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành chuyên môn.

Cụ thể, Thông tư 05/2025/TT-BGDĐT ngày 7/3/2025 quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học, có hiệu lực thi hành từ ngày 22/4/2025 quy định khá rõ về định mức tiết dạy và mức giảm định mức đối với từng vị trí. Hiệu trưởng dạy 2 tiết/tuần; phó hiệu trưởng dạy 4 tiết/tuần; tổ trưởng, tổ phó chuyên môn cũng được giảm định mức để có thời gian thực hiện nhiệm vụ quản lý tổ. Cụ thể, tổ trưởng chuyên môn giảm 3 tiết/tuần, tổ phó chuyên môn giảm 1 tiết/tuần.

Đây là quy định hợp lý, bởi nhiệm vụ chính của các vị trí này không còn thuần túy là giảng dạy mà đã chuyển sang quản lý, điều hành và hỗ trợ chuyên môn.

Song song với đó, Thông tư 33/2005/TT-BGDĐT hướng dẫn tạm thời thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập cũng đã quy định chế độ phụ cấp chức vụ cho các vị trí như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn.

Cụ thể, hiệu trưởng được hưởng phụ cấp chức vụ từ 0,55 đến 0,7, phó hiệu trưởng từ 0,25 đến 0,55; đối với tổ trưởng chuyên môn 0,2 đến 0,25, tổ phó chuyên môn 0,15.

Như vậy, có thể thấy rằng: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn đã được giảm tải đáng kể về khối lượng giảng dạy, đồng thời được hưởng thêm phụ cấp chức vụ để bù đắp trách nhiệm quản lý.

Đây là hai chính sách song hành, nhằm ghi nhận đúng vai trò đặc thù của những người làm công tác quản lý trong nhà trường.

Hai chính sách này hiện nay là hợp lý, phù hợp do áp lực công việc nhiều trong giai đoạn đổi mới ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy, quản lý.

Quy định hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn được giảm định mức tiết dạy đồng thời hưởng phụ cấp chức vụ là hoàn toàn hợp lý và cần thiết trong thực tiễn quản lý giáo dục hiện nay. Bởi lẽ, những vị trí này không chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy mà còn gánh vác khối lượng lớn công việc quản lý, điều hành, kiểm tra, hỗ trợ chuyên môn và chịu trách nhiệm trước tập thể nhà trường.

Việc giảm tiết giúp họ có đủ thời gian, điều kiện tập trung cho công tác quản lý; trong khi phụ cấp chức vụ là sự ghi nhận phù hợp đối với trách nhiệm, áp lực và vai trò dẫn dắt tập thể. Đây là chính sách thể hiện sự phân công lao động hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường và bảo đảm chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên, vấn đề bắt đầu nảy sinh khi những đối tượng này tiếp tục được “ưu tiên mềm” trong việc xét, bổ nhiệm vào các hạng chức danh nghề nghiệp cao như hạng I, II – vốn được thiết kế chủ yếu dựa trên năng lực chuyên môn giảng dạy và đóng góp nghề nghiệp dành cho cán bộ quản lý hay những người được phân công đảm nhiệm các nhiệm vụ như tổ trưởng, tổ phó chuyên môn.

Vừa hưởng phụ cấp chức vụ, vừa giảm tiết lại được ưu tiên bổ nhiệm hạng I, II liệu có hợp lý, công bằng?

Theo Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT về chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, các tiêu chí của giáo viên hạng I, II không chỉ dừng lại ở năng lực giảng dạy mà còn bao gồm năng lực dẫn dắt chuyên môn, nghiên cứu, đổi mới phương pháp, ảnh hưởng nghề nghiệp…

Đáng chú ý, trong các quy định này, cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn thường được “tính điểm thuận lợi” hơn do: Có điều kiện tham gia xây dựng kế hoạch, chỉ đạo chuyên môn; Có cơ hội tham gia các hoạt động cấp trường, cấp ngành; Có vai trò trong đánh giá, hỗ trợ giáo viên khác.

Cơ bản các nhiệm vụ của giáo viên hạng I, II gắn với nhiệm vụ của cán bộ quản lý bao gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng và tổ phó chuyên môn.

Nên khi bổ nhiệm, thăng hạng I, II thì đối tượng được ưu tiên thường là cán bộ quản lý trường học.

Tuy nhiên, cần nhìn thẳng vào thực tế những lợi thế này không hoàn toàn phản ánh năng lực giảng dạy trực tiếp, mà phần lớn đến từ vị trí công tác.

Khi một hiệu trưởng hay tổ trưởng đã được giảm tiết dạy, đã được hưởng phụ cấp chức vụ, lại tiếp tục được ưu tiên bổ nhiệm hạng I, II (kéo theo hệ số lương cao hơn) thì rõ ràng đang tồn tại sự cộng dồn nhiều chính sách ưu đãi trên cùng một đối tượng.

Trong khi đó, nhiều giáo viên đứng lớp nếu dạy đủ, thậm chí vượt định mức thì ngoài việc không có phụ cấp chức vụ, ít có cơ hội tham gia hoạt động quản lý lại gặp khó khăn hơn trong việc đạt tiêu chuẩn hạng cao.

Nếu xét về nguyên tắc công bằng và khuyến khích lao động thực chất, đây là điều chưa hợp lý.

Bản chất của việc bổ nhiệm hạng I, II là để ghi nhận trình độ chuyên môn và đóng góp nghề nghiệp, chứ không phải để “thưởng thêm” cho người đã có vị trí quản lý.

Do đó, nếu vẫn giữ cơ chế vừa có phụ cấp chức vụ, vừa được giảm định mức và vẫn được ưu tiên bổ nhiệm hạng cao thì chính sách sẽ rơi vào tình trạng trùng chế độ, gây mất cân bằng trong hệ thống đãi ngộ.

Trả lương theo vị trí việc làm: Lời giải căn cơ cho bài toán công bằng và hiệu quả

Những bất cập nêu trên thực chất bắt nguồn từ một vấn đề lớn hơn: cơ chế trả lương chưa gắn chặt với vị trí việc làm và hiệu quả công việc.

Nghị quyết 27-NQ/TW đã xác định rất rõ định hướng cải cách tiền lương: Trả lương theo vị trí việc làm, theo năng lực và hiệu quả công việc,…

Nếu thực hiện đúng tinh thần này, nhiều bất cập hiện nay sẽ được giải quyết một cách triệt để.

Cụ thể, làm việc ở vị trí nào hưởng lương theo vị trí đó. Ví dụ hưởng lương theo vị trí hiệu trưởng (bao gồm yếu tố quản lý); hưởng lương theo vị trí tổ trưởng; hưởng lương theo vị trí giáo viên,…

Một nguyên tắc quan trọng của trả lương theo vị trí việc làm là khi giữ chức vụ thì hưởng lương theo chức vụ, khi thôi chức vụ phải quay về mức lương tương ứng vị trí mới.

Điều này giúp tránh tình trạng “giữ hạng suốt đời” dù không còn đảm nhiệm vai trò tương ứng, tạo động lực phấn đấu thực chất.

Ví dụ, một giáo viên được bổ nhiệm vị trí việc làm hiệu trưởng thì chuyển lương sang hiệu trưởng, nếu vì lý do gì đó không còn giữ nhiệm vụ hiệu trưởng mà trở về làm giáo viên thì hưởng bảng lương của giáo viên, không có băn khoăn hay khó khăn gì về cơ chế trả lương.

Bên cạnh đó, ngoài việc trả lương theo vị trí việc làm còn một vấn đề là phải có chế độ khen thưởng tương xứng với hiệu quả công việc, ai làm tốt hơn được thưởng cao hơn, ai đóng góp nhiều thì được thưởng tương xứng hơn.

Đây cũng là cách để khắc phục tình trạng “cào bằng”. Việc cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn hiện đang đồng thời hưởng nhiều chế độ từ giảm định mức tiết dạy, phụ cấp chức vụ đến cơ hội bổ nhiệm hạng cao đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát lại tính hợp lý của chính sách.

Chỉ khi đảm bảo được nguyên tắc công bằng – minh bạch – khuyến khích cống hiến thực chất, chính sách tiền lương mới thực sự trở thành động lực phát triển đội ngũ nhà giáo, thay vì là nguồn gốc của những so sánh và bất cập kéo dài.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Mỹ Tiên