Danh mục 36 ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao

04/05/2026 06:23
Hồng Linh

GDVN - Ngành, nghề được xác định là ngành, nghề đào tạo đặc thù khi đáp ứng đầy đủ 08 tiêu chí được quy định tại Phụ lục, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT về danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.

Danh mục 36 ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao

Danh mục ngành, nghề đào tạo đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật là tập hợp các ngành, nghề đào tạo có tính chất khác biệt so với các ngành, nghề đào tạo thông thường, gắn với hoạt động sáng tác, chuyển thể, biểu diễn trong các lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật nghe nhìn; đòi hỏi người học có năng khiếu, tố chất sáng tạo, cảm thụ và biểu đạt nghệ thuật; quá trình đào tạo chuyên sâu, điều kiện tổ chức đào tạo đặc thù và phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập riêng biệt.

Danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực thể thao là tập hợp các ngành, nghề đào tạo có tính chất khác biệt so với các ngành, nghề đào tạo thông thường, gắn với hoạt động huấn luyện, thi đấu, tổ chức và quản lý thể dục, thể thao; đòi hỏi người học có năng khiếu, thể chất và tố chất vận động đặc thù; quá trình đào tạo chuyên sâu, cường độ cao, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng và phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập, thi đấu riêng biệt.

37-2026-tt-bgddt-2d7a5-images-1-6951.jpg
37-2026-tt-bgddt-2d7a5-images-2-2064.jpg
Danh mục 36 ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.

Nguyên tắc gắn mã

(*) Giữ nguyên mã số các ngành, nghề đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng trong giáo dục nghề nghiệp đã được ban hành; trường hợp văn bản này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế dẫn đến thay đổi mã số, việc điều chỉnh sẽ được thực hiện tương ứng để bảo đảm thống nhất, phù hợp với quy định. Do vậy, mã ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng bao gồm 07 chữ số, trong đó chữ số đầu thể hiện trình độ đào tạo, hai chữ số liền kề thể hiện lĩnh vực đào tạo, 02 chữ số tiếp theo thể hiện nhóm ngành, nghề đào tạo. 02 chữ số cuối thể hiện mã ngành, nghề đào tạo.

(**) Đối với chương trình giáo dục trung học nghề, trước mắt chưa thực hiện việc gắn mã cấp I (trình độ đào tạo) vào mã số của chương trình cho đến khi Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân có quy định cụ thể đối với chương trình giáo dục trung học nghề. Trong giai đoạn chuyển tiếp, mã chương trình giáo dục trung học nghề được thiết kế theo cấu trúc: mã lĩnh vực đào tạo - mã nhóm ngành, nghề đào tạo - mã ngành, nghề đào tạo. Sau khi danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân được ban hành và có quy định về mã cấp I đối với chương trình giáo dục trung học nghề, việc gắn mã cấp I sẽ được thực hiện và cập nhật theo quy định.

Tiêu chí xác định ngành, nghề đặc thù

Ngành, nghề được xác định là ngành, nghề đào tạo đặc thù khi đáp ứng đầy đủ 08 tiêu chí quy định tại Khoản 2 Phụ lục của Thông tư; trong đó, đối với mỗi tiêu chí, ngành, nghề phải đáp ứng ít nhất một trong các nội dung thể hiện của tiêu chí đó. Không xem xét đưa vào Danh mục các ngành, nghề có tính chất đào tạo thông thường, điều kiện lao động ổn định, không yêu cầu năng khiếu, tố chất đặc thù hoặc không có sự khác biệt rõ rệt về nội dung, phương thức đào tạo và đánh giá so với các ngành, nghề khác.

Các tiêu chí xác định ngành, nghề đào tạo đặc thù cụ thể như sau:

Nội dung đào tạo: Chương trình đào tạo tập trung chủ yếu vào rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, năng lực biểu diễn, sáng tạo nghệ thuật hoặc thi đấu thể thao; thời gian đào tạo thực hành chiếm tối thiểu 60% tổng thời gian đào tạo của ngành, nghề.

Yêu cầu năng khiếu, tố chất: Người học phải có năng khiếu, tố chất đặc thù phù hợp với yêu cầu của ngành, nghề; việc tuyển sinh có thể thông qua kiểm tra, đánh giá năng khiếu.

Đào tạo năng khiếu chuyên sâu, dài hạn: Ngành, nghề có yêu cầu phát hiện, bồi dưỡng người học từ sớm; việc tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu được thực hiện theo quy trình liên tục, kéo dài, tích lũy theo lộ trình nhiều giai đoạn, một số ngành, nghề được tổ chức tích hợp giữa đào tạo chuyên môn và đào tạo kiến thức văn hóa.

Điều kiện và tính chất lao động: Công việc có thời gian làm việc không ổn định, mang tính lưu động hoặc không liên tục hoặc phụ thuộc vào lịch biểu diễn, thi đấu; sử dụng trang thiết bị, công cụ, kỹ thuật chuyên dụng, đặc thù.

Yêu cầu đào tạo: Việc tổ chức đào tạo chủ yếu dựa trên rèn luyện năng lực thực hành, năng lực biểu diễn, tư duy nghệ thuật, thể chất hoặc kỹ năng thi đấu; không thuần túy dựa trên tích lũy kiến thức lý thuyết; việc sắp xếp lớp học có tính chất đặc thù theo từng ngành, nghề đào tạo.

Phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập: Kết quả đào tạo được đánh giá chủ yếu thông qua năng lực sáng tạo, biểu diễn hoặc thành tích thi đấu của người học, thể hiện qua sản phẩm nghệ thuật, chương trình biểu diễn, tác phẩm sáng tạo hoặc kết quả thi đấu; không phụ thuộc chủ yếu vào các hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống.

Tính đặc thù của nhiệm vụ nghề nghiệp: Nội dung công việc và kỹ năng nghề nghiệp có tính chuyên biệt, khó thể thay thế, một số ngành, nghề có quy mô đào tạo nhỏ nhưng có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật, việc đào tạo cần phải được duy trì.

Tác động kinh tế - xã hội: Ngành, nghề có yêu cầu đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế trực tiếp có thể không cao nhưng có đóng góp quan trọng đối với phát triển văn hóa, xã hội, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống hoặc góp phần nâng cao thành tích, uy tín và vị thế của quốc gia.

Xem chi tiết Thông tư TẠI ĐÂY:

Hồng Linh