Ngày 4/5, Chính phủ ban hành Dự thảo Nghị định ban hành Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia để lấy ý kiến. Theo đó, Quỹ Học bổng Quốc gia trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục.
Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng quốc gia gồm 7 chương, quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia, bao gồm: địa vị pháp lý; mục tiêu, nguyên tắc hoạt động; cơ cấu tổ chức và quản trị; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chương trình, tiểu chương trình học bổng; đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ và quy trình xét, cấp, giải ngân, hậu kiểm; quản lý tài chính; cơ chế tiếp nhận tài trợ, đóng góp, ủy thác; giám sát, đánh giá hoạt động; công khai, minh bạch và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đa dạng chương trình học bổng
Đối tượng áp dụng gồm: Quỹ học bổng Quốc gia; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến quản lý, sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia.
Bên cạnh đó là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; tổ chức, cá nhân tham gia tài trợ, đồng tài trợ, ủy thác, phối hợp thực hiện chương trình học bổng từ Quỹ học bổng Quốc gia; người học và các ứng viên được xét, cấp học bổng từ Quỹ học bổng Quốc gia và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc triển khai chương trình học bổng theo quy định tại Quy chế này.
Theo dự thảo, Quỹ tổ chức các chương trình học bổng gồm:
Thứ nhất, học bổng tài năng dành cho người học chương trình đào tạo tài năng, người học có thành tích xuất sắc trong học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo và phát triển kỹ năng nghề;
Thứ hai, học bổng cho người học đi học tại nước ngoài nhằm hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, thực tập, nghiên cứu đối với người học thuộc đối tượng ưu tiên theo mục tiêu của Quỹ;
Thứ ba, học bổng theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
Thứ tư, học bổng thu hút người nước ngoài học tập, nghiên cứu tại Việt Nam, phục vụ mục tiêu hợp tác quốc tế, phát triển giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao;
Thứ năm, học bổng tạo cơ hội phát triển dành cho người học thuộc đối tượng cần khuyến khích, hỗ trợ theo mục tiêu của Quỹ;
Trong đó, ưu tiên học viên sau đại học, người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ và các lĩnh vực ưu tiên khác theo từng giai đoạn; đồng thời hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề cho người học trong giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu thị trường lao động, hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Dự thảo cũng quy định chi tiết đối tượng và mức hỗ trợ đối với từng chương trình học bổng.
Xét chọn theo khung tiêu chí, có cơ chế so sánh, xếp hạng giữa các ứng viên
Dự thảo quy định, việc xét chọn học bổng được thực hiện trên cơ sở khung tiêu chí và thang điểm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cho từng chương trình, tiểu chương trình; bảo đảm khách quan, minh bạch, có cơ chế so sánh, xếp hạng giữa các ứng viên; phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm liêm chính trong đánh giá.
Trong đó, nhóm tiêu chí về thành tích học tập, nghiên cứu, kỹ năng nghề và kết quả chuyên môn liên quan trực tiếp đến mục tiêu chương trình chiếm trọng số cao nhất trong tổng điểm. Ngoài ra, có thể bổ sung các nhóm tiêu chí về chất lượng kế hoạch phát triển cá nhân, kế hoạch học tập, nghiên cứu, huấn luyện; đối với tiểu chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp có thể bổ sung tiêu chí về ý tưởng, mô hình, sản phẩm thử nghiệm, lộ trình triển khai và kết quả đầu ra.
Chính sách ưu tiên được thực hiện thông qua cơ chế cộng điểm, xếp hạng ưu tiên hoặc các phương thức phù hợp khác theo từng chương trình học bổng, trong đó tổng mức ưu tiên không vượt quá mức trần trong tổng số điểm của hồ sơ theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc ưu tiên áp dụng đối với người học thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các nhóm đối tượng ưu tiên theo quy định.
Trường hợp người học có cam kết sau tốt nghiệp công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, được xem xét áp dụng cơ chế ưu tiên theo chương trình; việc ưu tiên chỉ áp dụng khi cam kết có thể kiểm chứng và có cơ chế theo dõi, hậu kiểm.
Hội đồng Quản lý Quỹ không quá 11 thành viên, hoạt động kiêm nhiệm
Theo dự thảo, Hội đồng Quản lý Quỹ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập; hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm; có nhiệm kỳ 5 năm và được xem xét kiện toàn, bổ nhiệm lại theo quy định. Hội đồng có không quá 11 thành viên, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
Thành phần Hội đồng do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định, bao gồm đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng đại diện một số bộ, cơ quan trung ương, cơ sở giáo dục, tổ chức, chuyên gia và thành viên độc lập có liên quan, phù hợp với mục tiêu, tính chất hoạt động của Quỹ trong từng giai đoạn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giám sát hoạt động của Quỹ thông qua báo cáo định kỳ, đột xuất và kiểm tra, đánh giá theo thẩm quyền. Đồng thời, Bộ tổ chức đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ hằng năm, với các chỉ tiêu như: tình hình thực hiện nhiệm vụ, kết quả triển khai các chương trình học bổng; hiệu quả sử dụng nguồn lực; tình hình chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách; việc thực hiện chế độ báo cáo, công khai, minh bạch; tình hình tuân thủ quy định về tiếp nhận, quản lý tài trợ, đóng góp, ủy thác và xử lý kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; chất lượng quản trị, kiểm soát nội bộ.
Theo Dự thảo Quy chế, Quỹ thực hiện công khai thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Quỹ và các hình thức phù hợp, bao gồm: Thông tin về chương trình, tiểu chương trình học bổng (kế hoạch, tiêu chí, điều kiện, phạm vi và mức hỗ trợ); Kết quả xét chọn và danh sách người được hưởng theo hình thức định danh phù hợp; Tình hình thực hiện, giải ngân và báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán theo quy định; Thông tin tổng hợp về tiếp nhận và sử dụng tài trợ, đóng góp, ủy thác; hậu kiểm, thu hồi, bồi hoàn (nếu có).
Mục tiêu hoạt động của Quỹ học bổng Quốc gia
1. Góp phần thực hiện chính sách của Nhà nước về phát hiện, bồi dưỡng, thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao; mở rộng cơ hội học tập và hỗ trợ người học theo định hướng ưu tiên trong từng giai đoạn.
2. Góp phần thu hẹp chênh lệch cơ hội học tập giữa các vùng, miền và các nhóm đối tượng; thúc đẩy công bằng thực chất trong tiếp cận giáo dục, đào tạo thông qua cơ chế hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên phù hợp đối với người học thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người học thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên và các nhóm đối tượng cần khuyến khích theo từng giai đoạn.
3. Khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của người học; tăng cường kỹ năng nghề, năng lực số và năng lực hội nhập học thuật quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn và phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo.
4. Huy động, điều phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa theo nguyên tắc công khai, minh bạch; góp phần nâng cao liêm chính học thuật và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động cấp học bổng.