Trường đại học góp ý mức học bổng đối với người học các ngành khoa học, công nghệ

09/05/2026 06:29
Thu Trang

GDVN -Việc có học bổng không chỉ hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho người học mà quan trọng hơn là tạo động lực đủ mạnh để thu hút và giữ chân người học giỏi theo đuổi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng dự kiến gồm 15 nhóm ngành bao gồm: Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học vật chất, Khoa học trái đất, Toán học, Thống kê, Máy tính, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, Kỹ thuật điện - điện tử và viễn thông, Kỹ thuật hóa học - vật liệu - luyện kim và môi trường, Vật lý kỹ thuật, Kỹ thuật địa chất - địa vật lý và trắc địa, Kỹ thuật mỏ, và Xây dựng.

Theo các cơ sở giáo dục, việc có chính sách học bổng các ngành này là một bước đi hợp lý, giúp đảm bảo hệ sinh thái nhân lực khoa học - kỹ thuật, góp phần tạo ra nguồn lực bền vững cho phát triển.

Thông điệp rõ ràng về việc ưu tiên phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đình Tú, Chủ nhiệm Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ nano, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ, việc xác định 15 nhóm ngành trong danh mục cấp học bổng không chỉ là một chính sách hỗ trợ tài chính, mà còn là một tín hiệu định hướng mạnh đối với người học. Đặc biệt là nhóm học sinh giỏi, xuất sắc và tài năng đang đứng trước lựa chọn ngành nghề.

Trước hết, tác động rõ ràng nhất là tăng sức hấp dẫn của các ngành vốn thường có độ khó cao và yêu cầu đầu tư dài hạn. Khi học bổng được gắn trực tiếp với các ngành như Toán học, Vật lý kỹ thuật, Kỹ thuật điện - điện tử hay Công nghệ thông tin, học sinh giỏi sẽ có xu hướng nhìn nhận đây là những lĩnh vực được nhà nước ưu tiên phát triển. Điều này giúp giảm rào cản tâm lý ngành khó, thu nhập chưa rõ ràng, từ đó khuyến khích các em mạnh dạn lựa chọn.

Thứ hai, chính sách này có tác dụng tái phân bổ nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong thực tế, nhiều học sinh xuất sắc thường có xu hướng tập trung vào một số ngành được coi là “hot”. Việc mở rộng học bổng sang các lĩnh vực nền tảng khác sẽ góp phần thu hút nhân tài vào những ngành thiết yếu nhưng đang thiếu hụt.

Thứ ba, đây cũng là một công cụ để nâng cao chất lượng đầu vào của các chương trình đào tạo STEM. Khi có cơ chế học bổng cạnh tranh, các trường có thể thu hút được những học sinh có năng lực học thuật tốt, tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực trong môi trường học tập và nghiên cứu.

“Khi được triển khai tốt, chính sách này sẽ không chỉ thu hút người học giỏi mà còn góp phần định hình lại cấu trúc nguồn nhân lực khoa học - kỹ thuật theo hướng cân bằng và chiến lược hơn. Tuy nhiên, danh mục này không nên cứng nhắc theo năm hoặc một vài năm mà cần mở rộng hoặc điều chỉnh linh hoạt hằng năm theo các lĩnh vực mới mà xã hội đang thiếu nhân lực chất lượng cao”, thầy Tú chia sẻ.

Ảnh minh hoạ. Website Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ảnh minh hoạ. Website Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cùng bàn về vấn đề này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Văn Hồng Thiện - Trưởng khoa Khoa kỹ thuật Hóa học, Trường Bách khoa, Đại học Cần Thơ, việc có chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính mà còn là một thông điệp rõ ràng về việc ưu tiên phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ.

Việc này cũng góp phần tái cân bằng cơ cấu tuyển sinh giữa các lĩnh vực đào tạo bởi đây là các ngành nền tảng cho phát triển công nghiệp và công nghệ. Việc đưa đầy đủ cả nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật truyền thống và công nghệ hiện đại vào danh mục học bổng là một bước đi hợp lý, giúp đảm bảo hệ sinh thái nhân lực khoa học - kỹ thuật phát triển cân đối và bền vững.

Cách làm này cũng phù hợp với xu hướng quốc tế. Hiện nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Đức, Singapore đã triển khai học bổng, hỗ trợ tài chính và cam kết việc làm cho sinh viên STEM. Họ coi đây là đầu tư chiến lược dài hạn để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc đầu tư vào các ngành chiến lược như trên cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng, nhất là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 với các lĩnh vực then chốt như vật liệu mới, năng lượng, công nghệ môi trường và trí tuệ nhân tạo phát triển.

“Có thể thấy, việc đưa 15 nhóm ngành vào danh mục cấp học bổng sẽ không chỉ giúp tăng số lượng người học, mà quan trọng hơn là thu hút được đúng đối tượng là những học sinh có năng lực, có tiềm năng phát triển khoa học - công nghệ. Đây là bước đi rất cần thiết và phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới”, thầy Thiện cho biết.

Chính sách học bổng cần được nhìn nhận không phải là chi phí, mà là đầu tư chiến lược dài hạn

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các mức học bổng dự kiến chia theo bậc học và nhóm ngành. Ở bậc đại học, mức hỗ trợ dao động từ khoảng 3,7 đến 5,5 triệu đồng/tháng; ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, mức hỗ trợ cao hơn, tối đa lên tới 8,4 triệu đồng/tháng.

Bàn về mức hỗ trợ học bổng, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đình Tú, mức hỗ trợ như trên có ý nghĩa khuyến khích rõ rệt, nhưng chưa thực sự đủ mạnh để trở thành “đòn bẩy quyết định” trong bối cảnh hiện nay, nhất là với nhóm sinh viên, học viên xuất sắc có nhiều lựa chọn khác nhu du học, học bổng quốc tế…

Trước hết, nếu đặt trong điều kiện chi phí sinh hoạt tại các đô thị lớn như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, mức hỗ trợ này về cơ bản chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tối thiểu (ăn ở, đi lại, tài liệu học tập). Với học viên cao học và nghiên cứu sinh, yêu cầu về thời gian nghiên cứu toàn thời gian, chi phí tài liệu, thiết bị, hội thảo… cao hơn nên mức 8,4 triệu đồng/tháng cũng khó đảm bảo điều kiện nghiên cứu độc lập nếu không có nguồn hỗ trợ bổ sung.

Tuy nhiên, cũng theo thầy Tú, không nên đánh giá thấp mức hỗ trợ này bởi ở góc độ hành vi, học bổng vẫn có vai trò trong việc giảm áp lực tài chính, giúp người học tập trung hơn vào học tập và nghiên cứu. Ngoài ra tạo được tín hiệu chính sách rõ ràng rằng các ngành STEM được ưu tiên; tăng tính cạnh tranh đầu vào, đặc biệt nếu đi kèm tiêu chí tuyển chọn minh bạch.

“Vì vậy, theo tôi, chính sách nên được điều chỉnh theo hướng linh hoạt và hệ thống hơn. Trước hết, nên phân tầng mức hỗ trợ, trong đó tăng mức cao hơn cho nhóm sinh viên xuất sắc hoặc các ngành đặc thù như vật lý, vật liệu, địa chất.

Đồng thời, học bổng cần gắn với hiệu suất, được duy trì dựa trên kết quả học tập, công bố khoa học hoặc đóng góp nghiên cứu. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần bổ sung các yếu tố phi tài chính như kinh phí nghiên cứu, cơ hội tham gia đề tài và kết nối với doanh nghiệp.

Ngoài ra, mức hỗ trợ cũng nên tiệm cận chi phí thực tế theo vùng, có sự điều chỉnh phù hợp giữa các đô thị lớn và các địa phương khác. Việc hỗ trợ mức học bổng như hiện nay là một bước đi đúng và cần thiết, nhưng để thực sự cạnh tranh trong việc thu hút và nuôi dưỡng nhân tài STEM, đặc biệt ở bậc sau đại học thì cần có sự nâng cấp cả về mức hỗ trợ lẫn hệ sinh thái đi kèm”, thầy Tú đề xuất.

Ảnh minh hoạ. Website Đại học Cần Thơ.
Ảnh minh hoạ. Website Đại học Cần Thơ.

Đồng quan điểm, theo thầy Thiện, mức hỗ trợ như trên có tác dụng tạo động lực ban đầu cho người học lựa chọn và theo đuổi các ngành STEM. Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện đảm bảo đầy đủ điều kiện học tập và nghiên cứu, đặc biệt tại các đô thị lớn thì mức này vẫn chưa đủ để người học hoàn toàn yên tâm.

“Ở góc độ kinh nghiệm quốc tế, tôi xin chia sẻ một ví dụ khi nhận học bổng thạc sĩ tại National Taiwan University of Science and Technology. Nhiều sinh viên bản địa từng thắc mắc vì sao sinh viên quốc tế lại được hỗ trợ cao hơn.

Tuy nhiên, điểm mấu chốt cần hiểu học bổng này là một khoản đầu tư có chọn lọc. Sinh viên quốc tế đã được sàng lọc kỹ, có nền tảng tốt, khi học tập sẽ đóng góp vào nghiên cứu, công bố quốc tế, thúc đẩy quốc tế hóa và nâng cao uy tín của trường.

Quan trọng hơn, nhiều người ở lại làm việc sau tốt nghiệp, đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế. Vì vậy, chi phí học bổng ban đầu là nhỏ so với giá trị nguồn nhân lực chất lượng cao thu hút được. Từ đó có thể thấy, nếu Việt Nam muốn cạnh tranh trong phát triển và giữ chân nhân lực STEM thì chính sách học bổng cần được nhìn nhận không phải là chi phí, mà là đầu tư chiến lược dài hạn”, thầy Thiện cho biết.

Do đó, theo thầy Thiện, để chính sách phát huy hiệu quả cao hơn, cần tăng mức hỗ trợ theo năng lực và kết quả đầu ra, thay vì áp dụng cách “cào bằng”. Cụ thể, nên ưu tiên hỗ trợ cao hơn cho sinh viên thật sự xuất sắc, có thành tích nghiên cứu, công bố khoa học hoặc tham gia các dự án quan trọng; đồng thời áp dụng cơ chế thưởng theo kết quả và có thể tiến tới ký hợp đồng đào tạo.

Cần thiết kế một chuỗi chính sách liên thông từ đào tạo đến sử dụng lao động

Theo đề xuất, có hai nhóm được xem xét hỗ trợ học bổng. Thứ nhất, các thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế (thời gian đoạt giải không quá 3 năm).

Nhóm thứ hai, các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trong tổ hợp xét tuyển gồm môn toán và hai môn trong số bốn môn lý, hóa, sinh, tiếng Anh từ 22,50 điểm trở lên (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng, không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp). Nhóm thí sinh thứ hai cũng phải bảo đảm nằm trong nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.

Theo Trưởng khoa Khoa kỹ thuật Hóa học, Trường Bách khoa, Đại học Cần Thơ, việc xác định hai nhóm đối tượng được xét cấp học bổng như đề xuất là hợp lý và có tính chọn lọc cao.

Đồng thời, việc đặt ra các điều kiện duy trì học bổng trong suốt quá trình học như yêu cầu về kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, ý thức kỷ luật và năng lực nghiên cứu (đối với bậc sau đại học) là cần thiết nhằm đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng cũng như hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước.

Tuy nhiên, để chính sách này thực sự phát huy hiệu quả trong việc thu hút và phát triển nhân tài STEM, cần có cách tiếp cận toàn diện hơn theo hướng “phát hiện -nuôi dưỡng - phát triển liên tục”.

Thực tế cho thấy, không phải tất cả sinh viên giỏi đều bộc lộ năng lực từ giai đoạn phổ thông. Nhiều em có sự bứt phá mạnh mẽ trong quá trình học đại học khi được tiếp cận môi trường học thuật phù hợp.

Vì vậy, bên cạnh hai nhóm đối tượng đầu vào, nên bổ sung cơ chế xét học bổng trong quá trình đào tạo, đặc biệt đối với sinh viên năm 2, năm 3 có thành tích học tập xuất sắc, tham gia nghiên cứu khoa học hoặc đạt giải thưởng học thuật. Điều này không chỉ tránh bỏ sót nhân tài mà còn tạo động lực phấn đấu liên tục cho người học.

Bên cạnh đó, các tiêu chí duy trì học bổng cũng cần được thiết kế theo hướng đa chiều hơn, không chỉ dựa vào điểm số mà còn đánh giá năng lực nghiên cứu, khả năng tham gia dự án, cũng như các sản phẩm khoa học cụ thể như bài báo, sáng chế hoặc giải pháp kỹ thuật.

Một điểm rất quan trọng là cần gắn chính sách học bổng với hệ sinh thái nghiên cứu khoa học. Những sinh viên thực sự xuất sắc không chỉ cần hỗ trợ sinh hoạt mà còn cần được tham gia vào các nhóm nghiên cứu mạnh.

Ngoài ra, chính sách cũng nên hướng đến cơ chế “đầu tư theo kết quả đầu ra”. Những sinh viên duy trì thành tích xuất sắc, có công bố khoa học, tham gia các dự án lớn hoặc đạt giải thưởng uy tín cần được tăng mức hỗ trợ, ưu tiên tham gia các chương trình quốc tế hoặc được tạo điều kiện học tiếp lên bậc cao hơn theo lộ trình rút gọn. Điều này sẽ hình thành một hệ thống phát triển nhân tài liên tục, thay vì chỉ dừng lại ở hỗ trợ ban đầu.

Khi đó, học bổng không chỉ là hỗ trợ kinh tế mà sẽ trở thành công cụ chiến lược trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao cho đất nước.

Còn theo thầy Tú, nhìn tổng thể, bộ tiêu chí xét chọn và duy trì học bổng như trên được thiết kế theo hướng kết hợp “đầu vào chọn lọc - đầu ra sàng lọc”, về cơ bản là hợp lý và tiệm cận thông lệ quốc tế trong đào tạo nhân tài.

truong-bach-khoa-hcm.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc gắn học bổng với kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, kỷ luật học tập và đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học ở bậc sau đại học cho thấy định hướng đúng: học bổng không chỉ là phần thưởng đầu vào mà còn là cơ chế thúc đẩy hiệu suất và trách nhiệm học thuật. Cách tiếp cận này tương đồng với nhiều hệ thống tiên tiến, nơi học bổng thường đi kèm yêu cầu duy trì GPA, tiến độ nghiên cứu và sản phẩm khoa học cụ thể.

Ngoài ra, ngưỡng điểm 22,5 kèm điều kiện top 30% toàn quốc đối với sinh viên là phù hợp. Tuy nhiên, yêu cầu duy trì kết quả học tập liên tục gây áp lực, nhất là với sinh viên năm nhất chưa quen môi trường đại học. Ở bậc sau đại học, việc đòi hỏi năng lực nghiên cứu khi điều kiện hỗ trợ chưa đồng đều giữa các cơ sở đào tạo có thể tạo ra độ vênh giữa kỳ vọng và điều kiện thực thi.

Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý là “quy định không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ Ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp” có thể vô tình tạo ra sự bất lợi cho một bộ phận thí sinh có năng lực ngoại ngữ tốt.

Trên thực tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như nhiều trường đại học lớn đã ban hành các bảng quy đổi tương đối chuẩn hóa từ các chứng chỉ quốc tế (như IELTS, TOEFL) sang thang điểm 10. Việc không công nhận các mức quy đổi này khi xét học bổng có thể dẫn đến nghịch lý: thí sinh có năng lực tiếng Anh tốt hơn lại không được phản ánh đúng trong tổ hợp điểm. Điều này ảnh hưởng đến tính công bằng và chưa phù hợp với xu hướng quốc tế hóa giáo dục, khi ngoại ngữ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong học tập và nghiên cứu.

“Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở tiêu chí mà là ở việc cần thiết kế một hệ thống linh hoạt và đồng bộ hơn với hệ sinh thái hỗ trợ. Có thể cân nhắc áp dụng cơ chế “thích nghi năm đầu” để sinh viên có thời gian làm quen trước khi siết chặt tiêu chí duy trì. Đồng thời phân tầng yêu cầu theo từng giai đoạn học tập thay vì áp dụng một chuẩn cứng cho toàn khóa.

Bộ tiêu chí hiện tại có định hướng đúng và mang tính chọn lọc cao, đủ khả năng nhận diện và nuôi dưỡng người học có năng lực. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả tối đa và bền vững, cần điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, có hỗ trợ đi kèm và phù hợp với điều kiện thực tiễn đào tạo”, Chủ nhiệm Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ nano, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ.

Cũng theo thầy Tú, nếu chỉ dừng lại ở học bổng trong quá trình đào tạo thì chính sách mới chỉ giải quyết được “đầu vào” mà chưa chạm tới “đầu ra”. Để người học không chỉ theo học mà còn gắn bó lâu dài với lĩnh vực sau tốt nghiệp, cần thiết kế một chuỗi chính sách liên thông từ đào tạo đến sử dụng lao động.

Trước hết, cần có cơ hội việc làm rõ ràng và có lộ trình phát triển nghề nghiệp. Nếu không nhìn thấy con đường nghề nghiệp đủ hấp dẫn, họ hoàn toàn có thể chuyển sang các lĩnh vực khác có thu nhập cao hơn hoặc ổn định hơn. Do đó, cần tăng cường liên kết giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp để hình thành các mô hình như đặt hàng đào tạo, thực tập hưởng lương, hoặc cam kết tuyển dụng sau tốt nghiệp.

Đồng thời, nên cân nhắc các chính sách ràng buộc mềm gắn với ưu đãi. Người nhận học bổng có thể được khuyến khích làm việc trong lĩnh vực STEM trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các cơ chế như hỗ trợ tài chính bổ sung, ưu tiên tuyển dụng vào các dự án trọng điểm, hoặc tiếp cận các chương trình đào tạo nâng cao

Đặc biệt, cần xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ sau tốt nghiệp, đặc biệt cho nhóm theo hướng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, các yếu tố như môi trường làm việc, thu nhập cạnh tranh, cơ hội thăng tiến và hội nhập quốc tế cũng rất quan trọng bởi nếu không cải thiện đồng bộ, nguy cơ “chảy máu chất xám” vẫn khó tránh khỏi.

Thu Trang