Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Dự kiến chính sách mới sẽ được áp dụng từ ngày 1/9/2026.
Danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng dự kiến gồm 15 nhóm ngành, trong đó có nhóm ngành về Khoa học vật chất, Khoa học Trái đất. Các mức học bổng dự kiến chia theo bậc học và nhóm ngành. Ở bậc đại học, mức hỗ trợ dao động từ khoảng 3,7 triệu đồng đến 5,5 triệu đồng/tháng; bậc thạc sĩ và tiến sĩ, mức hỗ trợ cao hơn tối đa lên tới 8,4 triệu đồng/tháng.
Theo đánh giá từ các cán bộ đào tạo nhóm ngành Khoa học cơ bản, Khoa học Trái đất tại cơ sở giáo dục đại học, chính sách mới này sẽ là một ‘cú hích” quan trọng và đúng thời điểm để giải quyết cuộc khủng hoảng thiếu hụt nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực này.
Học bổng cho nhóm ngành khoa học cơ bản là đầu tư dài hạn cho phát triển quốc gia
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu - Trưởng khoa Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các ngành thuộc lĩnh vực Khoa học cơ bản, Khoa học Trái đất gắn trực tiếp với các bài toán quốc gia như biến đổi khí hậu, sạt lở, ngập lụt đô thị, tài nguyên nước, vật liệu mới, chuyển dịch năng lượng, khai thác khoáng sản chiến lược, địa chất công trình cho hạ tầng lớn. Học bổng dành cho người học các ngành Khoa học cơ bản không chỉ là hỗ trợ tuyển sinh mà là đầu tư cho năng lực khoa học nền tảng của quốc gia.
“Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các ngành Khoa học Trái đất (Khí tượng, Thủy văn, Hải dương học, Địa chất học,…) và Kỹ thuật Địa chất đối mặt với tình trạng tuyển sinh gặp khó. Theo báo cáo tổng kết công tác tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối ngành Khoa học tự nhiên và Khoa học sự sống luôn nằm trong nhóm có tỷ lệ tuyển sinh thấp nhất.
Sinh viên giỏi thường có xu hướng chọn các ngành Công nghệ thông tin, Kinh tế vì bài toán “chi phí cơ hội”, các ngành này mang lại thu nhập cao và môi trường làm việc bớt khắc nghiệt hơn so với việc phải đi thực địa, băng rừng lội suối, mô hình hóa dữ liệu, AI trong địa chất, GIS/viễn thám, phân tích vật liệu, năng lượng, môi trường, đô thị thông minh của nhóm ngành Khoa học Trái đất.
Hiện nay, nhiều học sinh có năng lực nổi trội về khoa học tự nhiên tại khu vực nông thôn, miền núi - những nơi người dân có sự gắn bó và hiểu biết nhất định về tài nguyên, môi trường vẫn gặp rào cản lớn về điều kiện kinh tế. Chính sách học bổng được kỳ vọng sẽ giúp các ngành Khoa học Trái đất trở thành lựa chọn bớt áp lực tài chính hơn, qua đó tạo điều kiện để học sinh yên tâm theo đuổi đam mê STEM và phát triển lâu dài trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã triển khai các chương trình đầu tư dài hạn cho khoa học nền tảng như chương trình Brain Korea 21 của Hàn Quốc chủ yếu hỗ trợ học bổng cho bậc sau đại học, hay quỹ A*STAR của Singapore với chính sách tài trợ toàn phần cho nhân lực khoa học cơ bản. Trong bối cảnh đó, chính sách học bổng mới của Việt Nam là phù hợp với xu hướng chung của các quốc gia chú trọng phát triển khoa học và công nghệ”, thầy Hiếu cho hay.
Ngoài ra, xét về khía cạnh hỗ trợ tài chính, đây được xem là bước tiến đáng kể so với bối cảnh hiện nay, khi phần lớn sinh viên vẫn phải tự túc chi phí học tập hoặc chỉ được nhận các suất học bổng khuyến khích học tập có giá trị không cao. Thầy Hiếu cho biết, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai học bổng 100% học phí dành cho sinh viên có thành tích xuất sắc theo học các ngành phục vụ chiến lược quốc gia, song vẫn cần những cơ chế mở hơn trong tương lai. Vì vậy, chính sách mới được kỳ vọng sẽ mở ra cơ chế hỗ trợ linh hoạt và bền vững hơn trong thời gian tới.
Dựa trên mặt bằng chung chi phí sinh hoạt hiện nay, một sinh viên tại Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh thường cần khoảng từ 4-6 triệu đồng mỗi tháng để trang trải các nhu cầu cơ bản như chỗ ở, ăn uống và di chuyển. Với mức hỗ trợ dự kiến khoảng 3,7-5,5 triệu đồng/tháng, chính sách này cơ bản có thể giúp người học đảm bảo mức sống tối thiểu. Nhờ đó, sinh viên các ngành Khoa học Trái đất và Khoa học cơ bản có thêm điều kiện tập trung cho việc học tập, nghiên cứu, thực hành trong phòng thí nghiệm thay vì phải dành nhiều thời gian làm thêm để trang trải chi phí sinh hoạt.
Đối với bậc sau đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc nhóm ngành Khoa học Trái đất, Khoa học cơ bản thường phải vừa học vừa làm để trang trải chi phí sinh hoạt. Điều này khiến thời gian thực hiện luận văn, luận án kéo dài, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng theo đuổi các nghiên cứu chuyên sâu, có tính mới và tính đột phá. Vì vậy, mức hỗ trợ 8,4 triệu đồng/tháng được xem là bước đầu hình thành mô hình “học viên cao học, nghiên cứu sinh toàn thời gian” đúng nghĩa tại Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu thu hút và giữ chân nhân lực xuất sắc theo đuổi nghiên cứu lâu dài, mức hỗ trợ hiện nay vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng trong tương lai để tăng sức cạnh tranh so với khu vực và thị trường lao động doanh nghiệp.
Nhiều chương trình học bổng sau đại học trong khu vực như học bổng MIS của Malaysia hay học bổng sau đại học của Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) thường hỗ trợ sinh hoạt phí tương đương khoảng 500-800 đô la Mỹ/tháng (khoảng từ 13-21 triệu đồng/tháng). Tại Trung Quốc, mức hỗ trợ phổ biến khoảng 3.500 Nhân dân tệ/tháng (khoảng 14 triệu đồng), đồng thời người học được hỗ trợ thêm về chỗ ở.
Đáng chú ý, các ngành Khoa học Trái đất, đặc biệt là ngành Kỹ thuật địa chất có đặc thù kinh phí lớn cho hoạt động thực địa như khảo sát địa chất, lấy mẫu đất đá, cũng như chi phí phân tích mẫu bằng các thiết bị chuyên sâu như SEM hay phân tích đồng vị.
Trong khi đó, mức 8,4 triệu đồng hiện chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cơ bản. Do đó, để chính sách phát huy hiệu quả thực chất, học viên và nghiên cứu sinh cần được tham gia các đề tài nghiên cứu có nguồn kinh phí riêng từ những quỹ như Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), quỹ nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc các chương trình nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhằm bảo đảm kinh phí chuyên môn phục vụ nghiên cứu.
Chính sách học bổng chỉ có thể tạo sức hút bền vững khi đi kèm hệ sinh thái đào tạo và nghiên cứu đồng bộ, bao gồm phòng thí nghiệm đủ năng lực, kinh phí thực địa, đội ngũ hướng dẫn nghiên cứu, liên kết doanh nghiệp, cơ hội thực tập cũng như cơ chế đặt hàng đề tài từ địa phương và doanh nghiệp. Quan trọng hơn, người học cần nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp rõ ràng sau tốt nghiệp. Nếu chỉ hỗ trợ sinh hoạt phí mà chưa gắn với cơ hội nghề nghiệp và môi trường nghiên cứu chất lượng, khả năng thu hút và giữ chân nhân lực giỏi sẽ vẫn còn hạn chế.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Trần Đức Mạnh - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cho rằng mức hỗ trợ dự kiến đối với bậc đại học và bậc sau đại học là tín hiệu tích cực, cho thấy sự quan tâm lớn của Nhà nước đối với đào tạo nhân lực ở các lĩnh vực Khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược.
“Đối với sinh viên đại học, nếu chính sách được triển khai ổn định và duy trì xuyên suốt quá trình học tập, khoản hỗ trợ này có thể giúp giảm đáng kể áp lực chi phí học tập và sinh hoạt, đặc biệt với sinh viên đến từ khu vực nông thôn, miền núi hoặc các địa phương còn khó khăn. Qua đó, người học có thêm điều kiện tập trung cho việc học, tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực chuyên môn thay vì phải dành nhiều thời gian làm thêm để trang trải chi phí.
Ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, việc nâng mức hỗ trợ cao hơn là cần thiết bởi hoạt động nghiên cứu đòi hỏi đầu tư lớn về thời gian, công sức cũng như chi phí chuyên môn. Chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần khuyến khích người học tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu, từng bước hình thành đội ngũ học viên cao học và nghiên cứu sinh toàn thời gian, thay vì phải chuyển hướng sang các công việc khác để bảo đảm thu nhập ngắn hạn”, Tiến sĩ Trần Đức Mạnh cho hay.
Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu cạnh tranh và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, mức hỗ trợ hiện nay có thể xem là nền tảng khởi đầu quan trọng để tạo động lực cho người học, đồng thời vẫn còn dư địa để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, học tập và nghiên cứu ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có thể nghiên cứu cơ chế điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển kinh tế hoặc theo đặc thù của từng nhóm ngành đào tạo.
Bên cạnh hỗ trợ tài chính trực tiếp, cần đồng bộ thêm nhiều chính sách đi kèm như hỗ trợ học liệu, ký túc xá, kinh phí nghiên cứu, cơ hội tham gia đề tài khoa học, kết nối doanh nghiệp, thực tập nghề nghiệp cũng như cơ chế tuyển dụng sau tốt nghiệp. Khi được triển khai theo hướng đồng bộ, chính sách học bổng không chỉ hỗ trợ người học về kinh tế mà còn góp phần xây dựng hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu đủ sức thu hút và giữ chân nhân lực giỏi trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược.
Tạo cơ hội cho người học tiềm năng
Theo dự thảo, có hai nhóm được xem xét hỗ trợ học bổng. Thứ nhất, các thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế (thời gian đoạt giải không quá 3 năm).
Thứ hai, các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trong tổ hợp xét tuyển gồm môn Toán và hai môn trong số bốn môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, tiếng Anh từ 22,50 điểm trở lên (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng, không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp).
Theo Tiến sĩ Trần Đức Mạnh, dự thảo đang hướng đến mục tiêu lựa chọn đúng những người học có năng lực học tập tốt, có nền tảng phù hợp và có khả năng theo đuổi lâu dài các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Về tổng thể, đây là cách tiếp cận hợp lý.
“Việc quy định tổ hợp xét tuyển phải nằm trong nhóm các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học và tiếng Anh cho thấy định hướng ưu tiên rõ ràng đối với năng lực STEM cốt lõi. Đồng thời, tiêu chí dành cho học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế cũng giúp nhận diện nhóm thí sinh có năng lực nổi trội ngay từ đầu vào.
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, tôi cho rằng các tiêu chí hiện nay vẫn ở mức tương đối cao nếu đặt trong bối cảnh mặt bằng chung của người học. Nhiều ngành khoa học cơ bản và công nghệ mới có tính liên ngành ngày càng rõ nét, trong khi năng lực của thí sinh không phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ qua các tổ hợp môn truyền thống hay thành tích học sinh giỏi.
Đối với điều kiện duy trì học bổng trong toàn khóa, việc gắn với kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, ý thức kỷ luật và năng lực tham gia nghiên cứu khoa học là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư cũng như trách nhiệm của người học. Cơ chế đánh giá cũng nên được thiết kế theo hướng linh hoạt, mang tính hỗ trợ và khuyến khích phát triển năng lực thay vì chỉ tập trung vào yếu tố sàng lọc.
Mục tiêu quan trọng nhất của chính sách không chỉ dừng ở việc lựa chọn người giỏi sẵn có mà cần tạo môi trường để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển những người học có tiềm năng, từ đó hình thành đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao gắn bó lâu dài với các lĩnh vực chiến lược của đất nước”, Tiến sĩ Trần Đức Mạnh nhận định.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu, các điều kiện theo dự thảo quy định để duy trì học bổng là hoàn toàn hợp lý. Các ngành Khoa học Trái đất, Kỹ thuật Địa chất hay Khoa học Vật chất thường có chương trình học nặng và điểm số (GPA) thường không có xu hướng cao như khối ngành kinh tế - xã hội. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như các trường đại học cần quy định một mức "kết quả học tập" duy trì ở mức Khá, Giỏi thực chất, thay vì đòi hỏi điểm số quá hoàn hảo nhưng mang tính hình thức.
Dự thảo chính sách học bổng được xem là bước đột phá quan trọng đối với các ngành Khoa học cơ bản và kỹ thuật then chốt tại Việt Nam. Mức hỗ trợ và các điều kiện duy trì học bổng có thể tiếp tục được điều chỉnh theo biến động chi phí sinh hoạt và đặc thù từng lĩnh vực đào tạo, chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhà khoa học có năng lực, đủ điều kiện theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu và tham gia giải quyết các bài toán lớn của quốc gia trong tương lai.