Trường nghệ thuật tháo gỡ được nhiều điểm nghẽn khi có danh mục ngành, nghề đặc thù

13/05/2026 06:30
Hồng Linh

GDVN - Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT góp phần xác lập lại cách nhìn đối với đào tạo nghệ thuật: phải được quản lý, đầu tư và đánh giá theo đúng bản chất đặc thù.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT về danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.

Theo đó, ngành, nghề được xác định là ngành, nghề đào tạo đặc thù khi đáp ứng đầy đủ 08 tiêu chí về nội dung đào tạo; yêu cầu năng khiếu, tố chất; đào tạo năng khiếu chuyên sâu, dài hạn; điều kiện và tính chất lao động; yêu cầu đào tạo; phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập; tính đặc thù của nhiệm vụ nghề nghiệp: tác động kinh tế - xã hội.

Đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng đào tạo các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật đánh giá, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT đã góp phần xác lập lại cách nhìn đối với đào tạo nghệ thuật: phải được quản lý, đầu tư và đánh giá đúng với bản chất đặc thù.

Căn cứ để các trường kiến nghị cơ chế phù hợp với bản chất đào tạo tài năng

Nhận định chung về Thông tư, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Bí thư Đảng ủy Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho biết, việc ban hành danh mục 36 ngành, nghề đào tạo đặc thù trong lĩnh vực nghệ thuật, thể thao là một bước rất quan trọng. Bởi lần đầu tiên tính đặc thù của đào tạo nghệ thuật được nhận diện tương đối đầy đủ trong một văn bản quy phạm pháp luật.

Hành lang pháp lý này giúp các cơ sở đào tạo nghệ thuật tháo gỡ nhiều điểm nghẽn lâu nay. Trước hết là cơ sở để thiết kế cơ chế tuyển sinh sớm, phát hiện và bồi dưỡng tài năng từ nhỏ, vì nhiều ngành biểu diễn không thể chờ đến sau phổ thông mới bắt đầu đào tạo chuyên nghiệp. Cùng với đó là cơ sở để tổ chức lộ trình đào tạo dài hạn, liên tục, chuyên sâu, có thể tích hợp giữa học văn hóa và đào tạo chuyên môn đối với những ngành cần rèn luyện từ sớm. Đồng thời là căn cứ để đề xuất chính sách học phí, học bổng, đầu tư cơ sở vật chất, định mức lớp học, giờ dạy và chế độ đãi ngộ phù hợp hơn cho đội ngũ giảng viên nghệ thuật.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương nhấn mạnh, danh mục 36 ngành, nghề đặc thù là cơ sở rất quan trọng để các trường nghệ thuật đề xuất chính sách đầu tư tương xứng hơn.

"Đào tạo nghệ thuật biểu diễn có chi phí cao, thời gian dài, số lượng người học trên lớp thường nhỏ, yêu cầu nhiều giờ học cá nhân hoặc nhóm nhỏ, cần phòng tập, nhạc cụ, sân khấu, thiết bị âm thanh, trang phục, đạo cụ và đội ngũ giảng viên có trình độ nghề nghiệp cao.

Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT không chỉ đưa ra danh mục kỹ thuật về mã ngành, nghề mà là nền tảng pháp lý để nhìn nhận đào tạo nghệ thuật như một lĩnh vực đào tạo tài năng đặc biệt, có đóng góp lâu dài cho phát triển văn hóa, công nghiệp sáng tạo, sức mạnh mềm và vị thế quốc gia" - thầy Phương cho hay.

Cùng bàn luận về vấn đề này, Thạc sĩ Phan Thái Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đà Nẵng cho rằng, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT sẽ giúp tháo gỡ ba nút thắt lớn.

Đầu tiên, giúp các trường có cơ sở xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và xác định chi phí đào tạo phù hợp, tương xứng để từ đó Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ. Vì đào tạo nghệ thuật không thể tính theo sĩ số lớp đông, phải dạy 1 thầy - 1 trò thậm chí nhiều thầy - 1 trò. Bên cạnh đó, cho phép tích hợp đào tạo văn hóa với chuyên môn (đào tạo dài hạn từ bậc trung học) giúp các trường “danh chính ngôn thuận” tổ chức các khóa học kéo dài 7-9 năm mà không bị vướng các quy định về khung thời gian đào tạo của giáo dục nghề nghiệp thông thường.

Ngoài ra, thay vì thi viết hay trắc nghiệm, việc công nhận kết quả qua buổi biểu diễn, tác phẩm nghệ thuật, triển lãm được pháp lý hóa giúp đánh giá đúng thực chất tài năng của người học. Song song với đó, cho phép xây dựng lịch học linh hoạt (phù hợp lịch diễn, tập luyện), đào tạo theo dự án, vở diễn và sử dụng nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia giảng dạy.

Cụ thể, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT giúp các trường chuyển từ việc “xin cơ chế” sang “đề xuất trên cơ sở pháp lý đã được công nhận”, tăng tính thuyết phục khi làm việc với Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Sở Tài chính.

Về tuyển sinh: Hợp pháp hóa thi năng khiếu riêng; tuyển sinh đối tượng người học từ khi còn nhỏ; tuyển chọn đặc cách tài năng; có cơ sở đề xuất chỉ tiêu riêng cho ngành hiếm; cơ chế tuyển thẳng đối với những người có năng khiếu xuất sắc.

Về học phí, học bổng, hỗ trợ người học: Có cơ sở để xây dựng mức học phí phù hợp trong đào tạo nghệ thuật ngành thường hoặc cơ chế miễn/giảm học phí ngành và Nhà nước cấp bù; có thể đề xuất học bổng tài năng, hỗ trợ sinh hoạt phí, chính sách đào tạo tài năng.

Về đầu tư cơ sở vật chất: Là căn cứ để đề xuất phòng học, phòng tập, sân khấu, studio chuyên dụng, trang thiết bị dạy học đặc thù… tránh bị áp định mức chung.

Về đội ngũ: Cho phép mời đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia đào tạo mà không vướng quy định về bằng cấp, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm; đề xuất chế độ đãi ngộ đặc thù, phụ cấp biểu diễn, luyện tập, hợp đồng linh hoạt.

Về cơ chế tài chính: Nền tảng để xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo, áp giá dịch vụ đáp ứng yêu cầu tự chủ tài chính.

“Để Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT phát huy hiệu quả, Nhà nước cần sớm ban hành Nghị định về đào tạo chuyên sâu đặc thù lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nếu không bức tranh đào tạo nghệ thuật đặc thù vẫn sẽ còn những mảnh ghép dang dở” - thầy Hùng bày tỏ.

z7731711805179-c60b7a0dd4474d5dd35bd830bb1e7906.jpg
Thạc sĩ Phan Thái Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đà Nẵng. Ảnh: NVCC.

Theo quan điểm của đại diện một cơ sở giáo dục đào tạo ngành múa, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT đã nêu rõ ngành, nghề đặc thù có thể có yêu cầu đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế trực tiếp có thể không cao nhưng có đóng góp quan trọng đối với phát triển văn hóa, xã hội, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống hoặc góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc gia.

Đây là căn cứ đáng chú ý, bởi giúp chuyển cách nhìn từ “hiệu quả tài chính trực tiếp” sang “hiệu quả văn hóa, xã hội và chiến lược nhân lực”.

Từ căn cứ này, các trường nghệ thuật có thể đề xuất những cơ chế cụ thể, như: tuyển sinh theo phương thức đánh giá năng khiếu phù hợp với từng ngành; xây dựng định mức đào tạo riêng cho các lớp chuyên môn có quy mô nhỏ; áp dụng chính sách học bổng, hỗ trợ học phí đối với những ngành khó tuyển nhưng cần duy trì; đầu tư phòng tập, sân khấu, trang thiết bị chuyên dụng; có cơ chế mời nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia thực hành tham gia giảng dạy; và xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp đối với giảng viên nghệ thuật biểu diễn.

Điều quan trọng là danh mục này không nên chỉ được hiểu là một bảng liệt kê tên ngành. Nếu được triển khai đúng, đây sẽ là nền tảng để thiết kế chính sách đào tạo nghệ thuật theo hướng thực chất hơn, phù hợp hơn với yêu cầu bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng nguồn nhân lực sáng tạo trong giai đoạn mới.

Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo, người học và đơn vị sử dụng lao động có cơ sở cụ thể hơn

Bên cạnh đó, phía các cơ sở giáo dục cho rằng, Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT có thể được xem như một bước cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương chia sẻ: "Nghị quyết số 80-NQ/TW có đặt ra mục tiêu bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp. Việc đưa các ngành như: Nghệ thuật biểu diễn chèo, Nghệ thuật biểu diễn tuồng, Nhạc công kịch hát dân tộc, Nhạc công truyền thống Huế... vào danh mục đặc thù có ý nghĩa lớn đối với việc giữ nghề và truyền nghề.

Đây là những ngành không thể chỉ nhìn bằng hiệu quả tuyển sinh trước mắt, bởi nhiều ngành có quy mô đào tạo nhỏ nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn di sản văn hóa và bản sắc nghệ thuật dân tộc.

Thông tư đã nêu rất đúng một tiêu chí quan trọng mang tính then chốt. Đó là có những ngành nghề quy mô đào tạo nhỏ, hiệu quả kinh tế trực tiếp có thể không cao, nhưng có ý nghĩa trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật và cần được duy trì. Nếu không có cơ chế đặc thù, các ngành khó tuyển sẽ ngày càng thu hẹp, kéo theo nguy cơ thiếu hụt diễn viên, nhạc công, nghệ sĩ kế cận cho các nhà hát, đoàn nghệ thuật truyền thống".

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương cũng chỉ ra, khi các ngành đào tạo đặc thù được xác định rõ, mối liên kết giữa cơ sở đào tạo, người học và đơn vị sử dụng lao động sẽ có cơ sở cụ thể hơn.

Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, nghệ thuật biểu diễn không chỉ là hoạt động biểu diễn thuần túy mà còn gắn với du lịch văn hóa, truyền thông, tổ chức sự kiện, sản xuất chương trình, công nghiệp giải trí và quảng bá hình ảnh quốc gia. Vì vậy, việc đưa các ngành như Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây, Piano, Violin, Thanh nhạc, Nhạc jazz, Quay phim, Tạp kỹ, Công nghệ âm nhạc… vào danh mục ngành, nghề đặc thù sẽ giúp hình thành chuỗi đào tạo - thực hành - sử dụng lao động rõ ràng hơn.

Từ đó, đào tạo nghệ thuật có thể chuyển từ tư duy “đào tạo theo khả năng của nhà trường” sang tư duy “đào tạo gắn với nhu cầu phát triển văn hóa, nghệ thuật và công nghiệp sáng tạo của đất nước".

508968276-122134536542700579-507735970070990447-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Bí thư Đảng ủy Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Ảnh: NVCC.

Theo chia sẻ từ Thạc sĩ Phạm Thái Hùng, hiện nay nhiều đơn vị tổ chức biểu diễn, sự kiện đặc biệt "khát" nhân lực nên họ thường ký kết hợp tác toàn diện với các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật theo mô hình 4 cùng (cùng xây dựng kế hoạch đào tạo; cùng xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; cùng tổ chức đào tạo, huấn luyện; cùng đánh giá kết quả học tập, kỹ năng nghề).

Việc có danh mục cụ thể sẽ giúp cơ sở đào tạo xác định rõ chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo gắn với vị trí việc làm; tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng; giảm chi phí đầu tư. Người học cũng có thể xác định rõ lộ trình: tốt nghiệp, làm gì, ở đâu? Qua đó phụ huynh và người học an tâm theo đuổi nghề nghiệp và đam mê, phát huy năng lực cá nhân.

Với đơn vị sử dụng lao động (nhà hát, đoàn nghệ thuật, doanh nghiệp sáng tạo), chủ động tuyển dụng được lao động đúng chuyên môn, đặt hàng đào tạo theo nhu cầu, giảm thời gian đào tạo lại, nâng cao năng suất lao động. Còn đối với thị trường công nghiệp văn hóa, Thông tư giúp chuyển từ đào tạo “hàn lâm - bao cấp” sang đào tạo phục vụ thị trường biểu diễn, công nghiệp giải trí, phát triển kinh tế du lịch...

Dưới góc nhìn của vị đại diện cơ sở giáo dục đào tạo ngành múa khẳng định, việc các ngành nghệ thuật biểu diễn truyền thống được đưa vào danh mục ngành, nghề đặc thù có ý nghĩa lớn. Những ngành này không chỉ là ngành đào tạo nghề nghiệp mà còn là không gian lưu giữ tri thức, kỹ năng, thẩm mỹ và ký ức văn hóa của dân tộc. Nếu không có cơ chế đào tạo phù hợp sẽ dễ gặp khó khăn trong tuyển sinh, duy trì đội ngũ giảng viên, truyền nghề và bảo đảm lực lượng kế cận.

Về mặt chính sách, danh mục tạo cơ sở để Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo có trách nhiệm hơn trong việc duy trì những ngành nghề có quy mô nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn đối với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

Đối với người trẻ, đây cũng là một tín hiệu quan trọng, lựa chọn theo đuổi nghệ thuật truyền thống không phải là lựa chọn bên lề, mà là tham gia vào một lĩnh vực được Nhà nước xác định là đặc thù, cần được bảo vệ, đầu tư và phát triển. Từ góc nhìn dài hạn, giữ nghề không chỉ là giữ một kỹ thuật biểu diễn, giữ nghề là giữ một hệ giá trị, một phương thức biểu đạt văn hóa và một mạch tiếp nối giữa các thế hệ nghệ sĩ.

Thông tư số 37/2026/TT-BGDĐT vì vậy có thể xem là một bước quan trọng để việc “truyền nghề” trong nghệ thuật truyền thống có thêm cơ sở pháp lý, có thêm điểm tựa chính sách và có thêm sức thuyết phục đối với người học trẻ.

Nói thêm về mối liên kết giữa cơ sở đào tạo, người học và đơn vị sử dụng lao động khi đã có danh mục ngành, nghề đặc thù, vị đại diện bày tỏ: "Trước đây, một số ngành nghệ thuật biểu diễn có nhu cầu xã hội rất rõ, nhưng do quy mô đào tạo nhỏ, đầu ra phân tán, điều kiện hành nghề đặc biệt nên chưa phải lúc nào cũng được nhìn nhận đầy đủ trong hệ thống chính sách đào tạo.

Việc đưa các ngành như Diễn viên múa, Biên đạo múa, Nghệ thuật biểu diễn cải lương, Nghệ thuật biểu diễn xiếc… vào danh mục đặc thù giúp các trường có căn cứ để tổ chức đào tạo sát hơn với nhu cầu thực tiễn.

Đối với cơ sở đào tạo, danh mục này giúp việc xây dựng chương trình không chỉ dựa trên chuẩn đầu ra chung, mà còn gắn với vị trí việc làm, yêu cầu nghề nghiệp và đặc điểm sử dụng nhân lực của các nhà hát, đoàn nghệ thuật, đơn vị biểu diễn, trung tâm văn hóa, doanh nghiệp tổ chức sự kiện, truyền thông và các thiết chế công nghiệp văn hóa.

Đối với người học, việc ngành học được xác định là ngành đặc thù giúp các em hiểu rõ hơn giá trị nghề nghiệp của lựa chọn đào tạo, có thêm cơ sở để tiếp cận chính sách hỗ trợ phù hợp. Đây cũng là căn cứ để đơn vị sử dụng lao động phối hợp với nhà trường trong đặt hàng đào tạo, tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực tập, tuyển dụng và bồi dưỡng nhân lực sau đào tạo.

Trong bối cảnh Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, việc xác định rõ các ngành đào tạo đặc thù sẽ giúp đào tạo nghệ thuật không đứng ngoài thị trường lao động mới. Ngược lại, đào tạo nghệ thuật có thể trở thành điểm nối giữa bảo tồn di sản, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo và hình thành các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế, thẩm mỹ và bản sắc".

Hồng Linh