Giải pháp phòng, chống hoạt động “bắt cóc online” đối với học sinh, sinh viên hiện nay

12/05/2026 09:13
Đặng Trí Đức - Sinh viên Học viện An ninh nhân dân

GDVN - Hoạt động “bắt cóc online” có bản chất là một “biến thể” nguy hiểm của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trực tuyến.

Hoạt động “bắt cóc online” (bắt cóc trực tuyến) là một hình thức bắt cóc mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Đây là một dạng thức lừa đảo tinh vi trên không gian mạng nhưng lại gây ra những hậu quả hết sức nguy hiểm trên không gian thực, đe dọa trực tiếp đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bài viết tập trung nhận diện một số phương thức, thủ đoạn và diễn biến tình hình của loại hình lừa đảo mới này; trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp phòng, chống góp phần bảo vệ sự an toàn đối với học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay.

Đặc điểm điển hình của đối tượng lừa đào " bắt cóc online"

Thời gian gần đây, tại Việt Nam nổi lên một loại hình lừa đảo mới hay còn gọi là hoạt động “bắt cóc online” (bắt cóc trực tuyến) là một biến thể mới đặc biệt nguy hiểm của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tiến hành trên môi trường mạng. Các đối tượng thường chọn mục tiêu là những nạn nhân thiếu thông tin, hiểu biết về sử dụng internet, mạng xã hội an toàn, trong đó chủ yếu là học sinh, sinh viên. Đây là nhóm người có tuổi đời trẻ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sống và bản lĩnh còn hạn chế.

Hiện nay, tình trạng hoạt động “bắt cóc online” tại nước ta đang có xu hướng gia tăng về cả số vụ, nạn nhân và mức độ nguy hiểm. Theo số liệu của Bộ Công an, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2024 đến hết năm 2025, đã có hơn 50 vụ việc có dấu hiệu hoạt động “bắt cóc online” được ghi nhận trên toàn quốc. Trong số 50 nạn nhân đã được giải cứu, có 45 nạn nhân là nữ (chiếm 90%). Đặc biệt, 100% các nạn nhân đều trong độ tuổi 16 - 22, đa phần là học sinh, sinh viên [1]. Trong các vụ “bắt cóc online” được ghi nhận, các đối tượng thường gây áp lực tâm lý, ép buộc nạn nhân đến khu vực vắng người, cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, yêu cầu nạn nhân tự quay clip nhạy cảm và dùng chính clip đó để khống chế buộc gia đình các nạn nhân phải chuyển tiền chuộc lớn từ vài trăm triệu cho đến hàng tỷ đồng.

doi-tuong-gia-danh-cong-an-goi-dien-lua-dao-chiem-doat-tai-san-anh-cong-an-tinh-ha-tinh.jpg
Đối tượng giả danh công an gọi điện lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ảnh: Công an tỉnh Hà Tĩnh

Qua phân tích các vụ việc “bắt cóc online” được Bộ Công an tiếp nhận và xử lý, có thể rút ra những đặc điểm điển hình về đối tượng phạm tội loại hình này như sau. Một là, các đối tượng phạm tội thường có trình độ hiểu biết, thành thạo về công nghệ thông tin. Hai là, các đối tượng phạm tội thường hoạt động theo nhóm có tính tổ chức, phân công và chuyên môn hóa cao. Ba là, các đối tượng phạm tội có động cơ phạm tội chủ yếu là vụ lợi về kinh tế.

Nhận diện về hoạt động “bắt cóc online”

Các vụ việc trên đã gây ra những hậu quả về sức khỏe, tinh thần và tài sản của nạn nhân và gia đình gây hoang mang dự luận, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vậy chúng ta có thể nhận diện hoạt động này như thế nào? Thực tiễn, qua nghiên cứu, bước đầu chúng tôi đưa ra một số nhận diện về hoạt động “bắt cóc online” trên mấy phương diện sau:

Hoạt động “bắt cóc online” có bản chất là một “biến thể” nguy hiểm của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trực tuyến, trong đó các đối tượng phạm tội giả mạo, tạo dựng nên các tình huống không có thật (thường là giả danh cơ quan chức năng), lợi dụng tâm lý cả tin của nạn nhân để đe dọa, tống tiền nạn nhân hoặc gia đình của nạn nhân.

Bất kỳ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của hoạt động “bắt cóc online”. Tuy nhiên, các đối tượng phạm tội thường chú ý nhắm tới những nạn nhân là học sinh, sinh viên, đặc biệt là số đang sinh sống và học tập xa gia đình. Đây là nhóm người tuổi đời còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống và dễ có tâm lý hoang mang, sợ hãi khi bị đe dọa, và khó khăn cho gia đình trong trực tiếp xác minh tình hình của nạn nhân. Qua tìm hiểu thực tiễn công tác xử lý các vụ việc liên quan đến hoạt động “bắt cóc online” được ghi nhận cho thấy, hoạt động này thường được các đối tượng phạm tội tiến hành theo một quy luật nhất định, bao gồm các công đoạn:

Bước 1: Thu thập thông tin cá nhân nạn nhân trên mạng xã hội. Đây là bước đầu tiên, là tiền đề để các đối tượng phạm tội có cơ sở xây dựng kế hoạch lừa đảo cụ thể, chi tiết phù hợp với từng nạn nhân cụ thể. Tại bước này, các đối tượng thống nhất lựa chọn những nạn nhân tiềm năng mà ở họ có những điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi lừa đảo. Sau khi đã khoanh vùng được những “con mồi” tiềm năng, các đối tượng thu thập những hình ảnh, thông tin cá nhân có liên quan đến nạn nhân. Các thông tin thu thập được càng cụ thể, chi tiết, các đối tượng càng xây dựng các kế hoạch tỉ mỉ, chi tiết hơn, dễ dàng lừa bịp được nạn nhân. Các đối tượng triệt để khai thác những thông tin cá nhân mà các nạn nhân đăng tải công khai lên các trang mạng xã hội (Facebook, Instagram, Tiktok,…). Ngoài ra, một số đối tượng thành thạo về công nghệ thông tin có thể tấn công vào hệ thống thông tin của các trang mạng xã hội, các sàn thương mại điện tử để đánh cắp trái phép thông tin của người sử dụng.

Bước 2: Gọi điện giả danh cơ quan chức năng. Sau khi đã xác định và thu thập thông tin về nạn nhân, các đối tượng tiến hành xây dựng kịch bản lừa đảo chi tiết, thường là giả danh các cơ quan thực thi pháp luật như Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án,… để đánh vào tâm lý sợ hãi của nạn nhân. Các đối tượng thực hiện công tác chuẩn bị hết sức tinh vi, sử dụng trang phục, công cụ, xây dựng không gian y hệt như trụ sở các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án,… Ngoài ra, các đối tượng còn học theo, bắt chước cách thức làm việc, nói chuyện của cán bộ các cơ quan chức năng để tăng tính thuyết phục.

Các đối tượng thông qua địa chỉ liên lạc đã thu thập được của nạn nhân để gọi điện, nhắn tin trực tiếp qua số điện thoại hoặc qua các ứng dụng (thường là Zalo hoặc Zoom), bắt nạn nhân thực hiện cuộc gọi video. Chúng sử dụng các thủ đoạn công nghệ cao như giả mạo số điện thoại (caller ID spoofing) hiển thị số tổng đài 069, 113; công nghệ deepfake để tạo hình ảnh, âm thanh giả mạo. Các đối tượng cáo buộc nạn nhân có liên quan đến các tội phạm hình sự nghiêm trọng (thường là ma túy, rửa tiền), đi kèm với “bằng chứng” giả mạo mang tính thuyết phục cao như lệnh bắt, hồ sơ cá nhân,… Kết hợp với giọng điệu gay gắt như một “đòn phủ đầu” lên tinh thần của nạn nhân, đẩy nạn nhân vào trạng thái hoảng sợ, hoang mang. Điển hình là vụ việc xảy ra ngày 21/7/2025, nạn nhân là nữ sinh tên T, đang học lớp 12 tại Hà Nội, các đối tượng gọi điện xưng là công an cho biết T đang liên quan đến đơn hàng ma túy yêu cầu em vào phong chát Zoom làm việc. Trong cuộc gọi đối tượng giả danh công an liên tục gây áp lực, buộc nạn nhân phải quay video toàn thân rồi yêu cầu cắt liên lạc với gia đình, thuê khách sạn “phục vụ điều tra”, “chứng minh bản thân trong sạch”. Tại khách sạn, chúng gửi hình ảnh nhạy cảm vừa quay để tống tiền gia đình nạn nhân 450 triệu đồng [2].

Bước 3: Thao túng tâm lý và buộc nạn nhân tự cô lập. Nạn nhân bị yêu cầu duy trì cuộc gọi Zoom hoặc Zalo video 24/7 với camera luôn bật, tuyệt đối không được tiết lộ cho bất kỳ ai kể cả gia đình với lý do “bảo vệ gia đình khỏi bị liên lụy” hoặc “phục vụ công tác điều tra”. Tiếp theo, các đối tượng buộc nạn nhân phải di chuyển đến địa điểm xa lạ như khách sạn, nhà nghỉ cách xa nơi cư trú, hoặc khu vực biên giới để “phục vụ điều tra” hoặc “tạm lánh”.

cac-doi-tuong-lien-he-gia-dinh-nan-nhan-doi-tien-chuoc-anh-nguyen-thanh-liem-ttxvn.jpg
Các đối tượng liên hệ gia đình nạn nhân đòi “tiền chuộc”. Ảnh: Nguyễn Thanh Liêm/TTXVN

Lợi dụng tâm lý hoảng loạn của nạn nhân, các đối tượng yêu cầu nạn nhân cung cấp hình ảnh cá nhân, quay video bản thân để “phục vụ điều tra”, “chứng minh bản thân trong sạch”. Nạn nhân bị buộc phải quay video hoặc chụp ảnh giả vờ bị trói, bị thương, bị bắt giữ; quay video hoặc chụp cá hình ảnh mang tính nhạy cảm để làm công cụ tống tiền; hoặc cung cấp mật khẩu mạng xã hội để đối tượng giả mạo nhắn tin. Các hình ảnh, video này được các đối tượng sử dụng làm “bằng chứng” cho việc nạn nhân bị bắt cóc. Điển hình như vụ việc xảy ra ngày 21/8/2025, nạn nhân là chị M sinh năm 2004, trú tại phường Đại Mỗ, Hà Nội, nạn nhân bị các đối tượng lừa di chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh ép gia đình chuyển số tiền chuộc hơn 1 tỷ đồng, nếu không sẽ bán vào ổ mại dâm. Thủ đoạn để lừa nạn nhân cũng là gọi điện, thông báo nạn nhân liên quan đến đường dây buôn bán ma túy, rửa tiền và bắt chị M vào khách sạn, khỏa thân quay clip [3].

Bước 4: Liên hệ gia đình để yêu cầu chuyển tiền. Các đối tượng trực tiếp hoặc sử dụng tài khoản mạng xã hội của nạn nhân gửi những “bằng chứng” này được gửi cho gia đình kèm lời đe dọa, tạo áp lực tâm lý cực lớn buộc gia đình phải chuyển “tiền chuộc” vào một tài khoản ảo chỉ định. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, các đối tượng cắt liên lạc, xóa tài khoản và biến mất hoàn toàn.

Thách thức trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bắt cóc online”

Trước thực trạng trên, các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an, Công an các tỉnh, thành phố đã phối hợp với các ban, ngành chức năng triển khai nhiều biện pháp để phòng, chống loại hình tội phạm nguy hiểm này. Trong đó, theo thống kê của Bộ Công an, tính riêng trong năm 2025, thực hiện chiến dịch “Không đi một mình - cùng nhau an toàn trực tuyến”, lực lượng Công an đã tổ chức 734 buổi tuyên truyền trực tiếp tại các điểm trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, trường đại học, Ủy ban nhân dân các xã, phường liên quan đến phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng trên phạm vi toàn quốc. Các buổi tuyên truyền đã tiếp cận đến trên 938.000 cán bộ, giáo viên, phụ huynh, học sinh, sinh viên. Báo cáo viên của các cơ quan chức năng cùng các KOL đã truyền đạt, cung cấp các kiến thức và trải nghiệm thực tế về an toàn, an ninh mạng để các em học sinh khi tham gia môi trường mạng có thể phòng tránh các thủ đoạn lừa đảo, xâm hại, đe dọa, “bắt cóc online” [1].

Tuy nhiên, thực tế công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bắt cóc online” cho thấy, công tác này trong thời gian tới đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể như sau: Một là, phương thức, thủ đoạn của đối tượng ngày càng tinh vi, biến đổi nhanh chóng và khó lường. Các đối tượng hoạt động phạm tội sử dụng công nghệ cao nói chung và hoạt động “bắt cóc online” nói riêng luôn không ngừng cập nhật, thường xuyên cải tiến kịch bản lừa đảo phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tâm lý xã hội và đôi phó với các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh xử lý của cơ quan chức năng. Khi một thủ đoạn bị vạch trần và tuyên truyền cảnh báo rộng rãi, chúng nhanh chóng chuyển sang thủ đoạn mới, phức tạp và tinh vi hơn, khiến công tác phòng ngừa bị rơi vào thế bị động. Sự xuất hiện của công nghệ AI, DeepFake, các ứng dụng ẩn danh tạo ra khả năng làm giả và che giấu dấu vết ở mức độ chưa từng có, vượt xa khả năng nhận diện của người dân. Hai là, tốc độ phát triển của công nghệ số lớn hơn nhiều so với khả năng cập nhật và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác phòng ngừa. Trong khi trên thế giới, các công nghệ mới được ra đời và phát triển liên tục, thì quá trình ban hành, sửa đổi văn bản pháp luật thường mất nhiều năm, tạo ra khoảng trống pháp lý mà các đối tượng phạm tội có thể lợi dụng, khai thác. Bên cạnh đó, việc đầu tư, mua sắm, nâng cấp hệ thống công nghệ phục vụ phòng ngừa cũng phải trải qua các quy trình kiểm định chặt chẽ, nghiêm ngặt, trong khi hiện nay công nghệ lại lỗi thời rất nhanh, dẫn đến tình trạng thiết bị mới mua đã không còn phù hợp với yêu cầu thực tế. Ba là, một bộ người dân, đặc biệt là lớp trẻ vẫn thiếu hiểu biết, chủ quan trong nhận thức về an toàn thông tin và kỹ năng phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Mặc dù công tác tuyên truyền đã được đẩy mạnh nhưng vẫn chưa thể thu hút được sự quan tâm của đông đảo tầng lớp dân cư. Nhiều người vẫn có tâm lý “chuyện đó không thể xảy ra với mình”, thiếu cảnh giác trước các thông tin lạ. Đặc biệt, một bộ phận lớn người dân còn thiếu ý thức bảo vệ thông tin các nhân, thường xuyên đăng tải các thông tin về bản thân và người xung quanh lên các trang mạng xã hội. Các đối tượng lừa đảo có thể thu thập và khai thác những thông tin này để xây dựng kế hoạch “bắt cóc online” đối với nạn nhân, gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác phòng ngừa hoạt động này.

Một số giải pháp phòng, chống hoạt động “bắt cóc online” đối với học sinh, sinh viên

Thời gian tới, tình hình tội phạm, nhất là tội phạm lừa đảo trực tuyến, bắt cóc trực tuyến sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp do sự phát triển của các công nghệ mới trên internet, mạng xã hội. Để công tác phòng, chống hoạt động “bắt cóc online” đối với học sinh, sinh viên được hiệu quả, góp phần bảo vệ an toàn cho thế hệ trẻ, tương lai của đất nước, các cơ quan chức năng cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tham mưu với các cơ quan, ban, ngành có thẩm quyền tăng cường công tác quản lý trên lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, Internet và thiết bị điện tử. Cần tập trung tham mưu với các cơ quan có thẩm quyền xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể Luật An ninh mạng, Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng, đặc biệt là các quy định về: quản lý chặt chẽ việc cấp phát, kích hoạt thuê bao viễn thông, đảm bảo đúng người, đúng thông tin; quản lý tài khoản ngân hàng, ví điện tử, ngăn chặn tình trạng mở tài khoản để cho thuê, bán lại; bảo vệ dữ liệu cá nhân, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về thu thập, lưu trữ, chia sẻ thông tin cá nhân; và quản lý các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng OTT, yêu cầu chúng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm mạng.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tính chất nguy hiểm, phương thức thủ đoạn của hoạt động “bắt cóc online”. Cần giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ rằng “bắt cóc online” khác biệt rất lớn với bắt cóc truyền thống, không có sự bắt giữ, giam cầm thực tế mà là thủ đoạn lừa đảo sử dụng công nghệ cao để thao túng tâm lý; bất kỳ ai cũng có thể trở thành nạn nhân, tuy nhiên học sinh, sinh viên là những đối tượng mà các đối tượng đặc biệt chú ý nhắm tới; hậu quả mà hoạt động “bắt cóc online” có thể gây ra không chỉ về mặt kinh tế mà còn về tư tưởng, tâm lý của chính nạn nhân. Cùng với đó, phải trang bị kiến thức về phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại hình tội phạm này, như: các bước trong quy trình phạm tội (thu thập thông tin, giả danh cơ quan chức năng, đe dọa, cô lập, chiếm đoạt tài sản); các dấu hiệu nhận biết cuộc gọi lừa đảo (yêu cầu chuyển tiền để “chứng minh trong sạch”, yêu cầu cắt liên lạc gia đình, yêu cầu di chuyển đến địa điểm xa, duy trì video call 24/7); các công nghệ được sử dụng (AI, DeepFake, Giả mạo ID người gọi, VPN); và đặc biệt là nguyên tắc mang tính chất căn bản: các cơ quan chức năng như cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án không bao giờ gọi điện yêu cầu công dân chuyển tiền hoặc làm việc qua cuộc gọi video. Nội dung này cần được liện tục cập nhật, kịp thời thông báo mỗi khi xuất hiện thủ đoạn mới.

can-bo-cong-an-phuong-ha-nam-tinh-ninh-binh-tuyen-truyen-kien-thuc-cho-cac-em-hoc-sinh-ve-phong-chong-hoat-dong-bat-coc-online-tren-khong-gian-mang-anh-cong-an-tinh-ninh-binh.jpg
Cán bộ Công an phường Hà Nam (tỉnh Ninh Bình) tuyên truyền kiến thức cho các em học sinh về phòng, chống hoạt động “bắt cóc online” trên không gian mạng. Ảnh: Công an tỉnh Ninh Bình

Ba là, tập trung trang bị cho học sinh, sinh viên một số kỹ năng quan trọng để ứng phó, phòng ngừa với loại tội phạm trên.

Trước hết là về kỹ năng phòng ngừa. Để hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của hoạt động “bắt cóc online”, học sinh, sinh viên cần chủ động trang bị kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi hoạt động trên không gian mạng. Đầu tiên, cần luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trong quá trình sử dụng các nền tảng số, đặc biệt là mạng xã hội. Tuyệt đối không chấp nhận lời mời kết bạn từ những người không quen biết hoặc không rõ danh tính. Đồng thời, không truy cập vào các đường link lạ được gửi qua tin nhắn SMS, email hoặc các nền tảng mạng xã hội nhằm tránh nguy cơ bị đánh cắp thông tin cá nhân. Bên cạnh đó, học sinh, sinh viên cần chủ động cài đặt các chế độ bảo mật cho tài khoản cá nhân trên các nền tảng mạng xã hội, như chế độ khóa bảo vệ trang cá nhân, xác thực hai lớp hoặc giới hạn quyền truy cập thông tin. Việc chia sẻ thông tin cá nhân trên không gian mạng cũng cần được kiểm soát chặt chẽ; tránh công khai các thông tin cá nhân như địa chỉ nơi ở, số căn cước công dân, số điện thoại hoặc thông tin về lịch trình sinh hoạt cá nhân. Đặc biệt, cần ghi nhớ một nguyên tắc quan trọng rằng các cơ quan chức năng không làm việc thông qua điện thoại, các trang mạng xã hội hoặc các nền tảng trực tuyến mà chỉ làm việc trực tiếp.

Song song với đó, việc duy trì liên lạc thường xuyên với gia đình cũng là một biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Học sinh, sinh viên nên đều đặn cập nhật tình hình sinh hoạt, học tập và công việc hàng ngày cho gia đình để kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường. Đồng thời, cần thống nhất với gia đình những quy ước hoặc dấu hiệu nhận biết riêng trong quá trình liên lạc, chẳng hạn như cách xưng hô, cách sử dụng biểu tượng cảm xúc, dấu câu hoặc các ký hiệu quen thuộc. Những chi tiết tưởng chừng đơn giản này có thể giúp gia đình nhận diện được hành vi giả mạo hoặc lừa đảo khi các đối tượng cố tình lợi dụng nạn nhân để tạo dựng tình huống “bắt cóc online”.

Tiếp đến là về kỹ năng ứng phó. Khi nhận được các cuộc gọi, tin nhắn hoặc yêu cầu có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến “bắt cóc online”, học sinh, sinh viên nên làm theo các bước. Bước 1, cần giữ bình tĩnh và không để bản thân rơi vào trạng thái hoang mang, hoảng sợ. Cần luôn ghi nhớ rằng các cơ quan chức năng không bao giờ làm việc qua điện thoại để thông báo về các vụ án, yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân hoặc chuyển tiền; trong trường hợp cần thiết, các cơ quan chức năng sẽ thực hiện theo đúng trình tự pháp luật thông qua giấy mời hoặc cử cán bộ trực tiếp làm việc. Bước 2, khi phát hiện cuộc gọi có dấu hiệu bất thường hoặc có nội dung đe dọa, ép buộc, cần lập tức ngắt kết nối, không tiếp tục trao đổi hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu nào của đối tượng. Việc chấm dứt liên lạc ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng, tránh để các đối tượng thu thập hình ảnh, giọng nói hoặc thông tin cá nhân để phục vụ cho việc giả mạo, dẫn dụ hoặc thao túng tâm lý gia đình. Bước 3, nhanh chóng liên hệ với gia đình để thông báo tình hình, giúp người thân nâng cao cảnh giác và tránh bị các đối tượng lợi dụng thông tin để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bước 4, khẩn trương trình báo vụ việc với trụ sở cơ quan Công an gần nhất hoặc qua số điện thoại khẩn cấp của lực lượng Công an (113) để được hướng dẫn, hỗ trợ và xử lý kịp thời. Việc chủ động cung cấp đầy đủ thông tin, bằng chứng liên quan như số điện thoại, nội dung tin nhắn, tài khoản liên hệ hoặc và các thông tin khác có liên quan sẽ góp phần đặc biệt quan trọng trong quá trình xác minh, điều tra, xử lý tội phạm và ngăn chặn các hành vi phạm tội khác./.

Tài liệu tham khảo:

[1] Bộ Công an, Báo cáo về tình hình và kết quả công tác phòng, chống tội phạm lừa đảo trên không gian mạng năm 2024, 2025.

[2] Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, Bài viết Cảnh báo biến tướng “thủ đoạn bắt cóc online”.

[3] Truyền hình Công an nhân dân, Phóng sự Thủ đoạn dẫn dụ nạn nhân để “bắt cóc online”.

Đặng Trí Đức - Sinh viên Học viện An ninh nhân dân