Thẩm quyền công nhận văn bằng nước ngoài: Nên trao cho ai?

13/05/2026 06:26
ĐÀO HIỀN

GDVN - Nhiều chuyên gia cho rằng cần bảo đảm thống nhất về tiêu chí, dữ liệu và cơ chế giám sát thay vì phân quyền toàn phần, nhằm tránh tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nhu cầu học tập xuyên biên giới ngày càng gia tăng, việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam nhận được nhiều sự quan tâm. Hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư quy định điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng nước ngoài, trong đó đề xuất hai phương án liên quan đến thẩm quyền công nhận văn bằng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Cụ thể, phương án thứ nhất đề xuất phân cấp cho người đứng đầu đơn vị cung cấp dịch vụ công thực hiện công nhận văn bằng, thay vì tập trung như hiện nay.

Phương án thứ hai giữ nguyên quy định hiện hành, theo đó thủ trưởng đơn vị có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước về công tác văn bằng, chứng chỉ sẽ có thẩm quyền công nhận văn bằng.

Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn từ phía các cơ sở giáo dục.

Nguy cơ “mỗi nơi hiểu một kiểu” khi phân cấp công nhận văn bằng quốc tế

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, việc sửa đổi quy định về công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam ở thời điểm hiện nay là yêu cầu cần thiết, xuất phát từ sự thay đổi nhanh chóng của xu hướng học tập và mô hình đào tạo quốc tế trong những năm gần đây.

Trên thực tế, số lượng người học tham gia các chương trình liên kết đào tạo, đào tạo trực tuyến, đào tạo xuyên biên giới hay sở hữu văn bằng từ các cơ sở giáo dục nước ngoài đang gia tăng đáng kể, kéo theo nhu cầu công nhận văn bằng để học tập, làm việc và phát triển nghề nghiệp tại Việt Nam ngày càng lớn.

“Vấn đề đặt ra không chỉ là xử lý nhanh hay chậm, mà là hệ thống có đủ năng lực dữ liệu và năng lực số để đảm bảo công nhận minh bạch, nhất quán và có thể mở rộng khi số lượng hồ sơ tiếp tục tăng hay không”, thầy Thơ nêu vấn đề.

Đánh giá về phương án phân cấp thẩm quyền công nhận văn bằng được nêu trong dự thảo, thầy Thơ nhận định đây là hướng đi có tính khả thi nếu được triển khai cùng các điều kiện bảo đảm phù hợp. Theo thầy, việc phân cấp có thể góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm áp lực tập trung cho cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho người học trong quá trình thực hiện thủ tục.

Đây cũng là xu hướng quản trị đang được nhiều quốc gia áp dụng trong cung cấp dịch vụ công giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả xử lý và tăng tính linh hoạt của hệ thống.

Tuy nhiên, thầy cũng lưu ý rằng thách thức lớn nhất của mô hình phân cấp là nguy cơ thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện giữa các đơn vị. Nếu chưa đủ cơ sở dữ liệu dùng chung, quy trình chuẩn hóa và cơ chế giám sát đủ rõ ràng, rất dễ phát sinh tình trạng mỗi nơi hiểu và áp dụng theo cách khác nhau.

Đặc biệt, đối với các văn bằng thuộc mô hình đào tạo mới hoặc được cấp bởi những cơ sở giáo dục quốc tế chưa phổ biến tại Việt Nam, việc đánh giá và công nhận có thể gặp nhiều lúng túng nếu thiếu hệ thống tiêu chí và dữ liệu tham chiếu thống nhất trên toàn hệ thống.

ktgqjnoa7-83ubv9dr4y6pm2.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: website nhà trường.

Cùng góp ý cho dự thảo Thông tư, Tiến sĩ Lê Danh Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cũng cho rằng, việc ban hành Thông tư quy định về công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam là yêu cầu rất cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, thậm chí có thể xem là một “điểm nghẽn” cần sớm được tháo gỡ.

Bởi thực tế, quá trình hội nhập quốc tế kéo theo số lượng người học, người lao động sở hữu văn bằng nước ngoài trở về Việt Nam học tập và làm việc tăng nhanh trong những năm gần đây. Thế nhưng, quy trình công nhận văn bằng vẫn còn tồn tại những độ trễ nhất định về thủ tục, thiếu tính linh hoạt và chưa theo kịp sự đa dạng của các mô hình đào tạo quốc tế.

Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cơ hội học tập nâng cao, tìm kiếm việc làm của người học mà còn tác động đến quá trình thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo ở nước ngoài.

Chưa kể, trong bối cảnh chuyển đổi số và dịch chuyển lao động toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, việc công nhận văn bằng không nên chỉ được nhìn nhận như một thủ tục hành chính đơn thuần, mà cần được xem là công cụ quan trọng để kết nối nguồn nhân lực quốc tế với thị trường lao động trong nước. Theo thầy Quang, nếu quy trình công nhận chưa bảo đảm tính kịp thời, minh bạch và thuận lợi, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội tiếp nhận và khai thác hiệu quả lực lượng lao động chất lượng cao được đào tạo từ nước ngoài.

Nhận xét về tính khả thi của hai phương án, Tiến sĩ Lê Danh Quang cho rằng phương án giữ thẩm quyền công nhận văn bằng tại cơ quan quản lý nhà nước có nhiều ưu điểm trong việc bảo đảm chất lượng và tính thống nhất, nhất là trong bối cảnh công tác công nhận văn bằng quốc tế còn nhiều yếu tố phức tạp. Tuy nhiên, thầy Quang cũng cho rằng mô hình này sẽ bộc lộ một số hạn chế khi số lượng hồ sơ công nhận văn bằng ngày càng tăng do xu hướng du học, đào tạo trực tuyến quốc tế và dịch chuyển lao động toàn cầu. Việc tập trung toàn bộ hồ sơ về một đầu mối dễ dẫn đến quá tải, kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội học tập và việc làm của người học. Bên cạnh đó, người dân ở xa cũng gặp khó khăn hơn trong tiếp cận dịch vụ công.

651559316-1377827161058296-4379820730249222988-n.jpg
Tiến sĩ Lê Danh Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: website nhà trường.

Không nên phân quyền toàn phần trong công nhận văn bằng quốc tế

Từ thực tiễn cho thấy, nếu triển khai theo phương án 1 dự đoán có thể phát sinh một số bất cập. Việc tập trung hồ sơ về một đầu mối có nguy cơ làm gia tăng khối lượng xử lý tại một đơn vị, từ đó kéo dài thời gian giải quyết và gây khó khăn cho người có nhu cầu xác nhận văn bằng và lo ngại quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong hoạt động công nhận, đánh giá văn bằng nước ngoài cũng có thể bị thu hẹp phần nào.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ, việc đánh giá văn bằng nước ngoài hiện không chỉ dựa vào tên cơ sở đào tạo hay thời gian học, mà còn phải xem xét kiểm định chất lượng, hình thức đào tạo, tính pháp lý của chương trình và chuẩn đầu ra. Vì vậy, nếu thực hiện phân cấp thẩm quyền công nhận văn bằng mà không có bộ tiêu chí thống nhất, sẽ rất dễ phát sinh chênh lệch trong cách công nhận giữa các đơn vị và xảy ra tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau.

So sánh tính tối ưu của cả 2 phương án, thầy Thơ cho rằng nên giữ quy định hiện hành (theo phương án 2).

slider-2-17147879124871032858820.jpg
Nguồn ảnh: moet.gov.vn

Từ thực tế triển khai, Phó giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ đề xuất hướng tiếp cận trung gian thay vì lựa chọn hoàn toàn giữa mô hình tập trung hoặc phân cấp. Theo đó, những hồ sơ phổ biến, có thông tin rõ ràng, thuộc các cơ sở giáo dục đã được kiểm định hoặc từng nhiều lần được công nhận có thể giao cho các đơn vị được phân cấp xử lý nhằm giảm tải cho cơ quan quản lý trung ương và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục.

Trong khi đó, các trường hợp phức tạp, xuất hiện yếu tố mới hoặc cần đánh giá chuyên sâu vẫn nên do cơ quan quản lý trung ương xem xét để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình công nhận văn bằng.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Lê Danh Quang, trong trường hợp lựa chọn phương án phân cấp thẩm quyền công nhận văn bằng, cần thiết kế đồng bộ nhiều điều kiện và cơ chế đi kèm để bảo đảm tính thống nhất trong toàn hệ thống. Trước hết, cần xây dựng bộ tiêu chí và chuẩn công nhận áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, trong đó quy định rõ các nội dung liên quan đến loại hình cơ sở đào tạo, kiểm định chất lượng, hình thức đào tạo, thời lượng học tập, chuẩn đầu ra… nhằm giúp các đơn vị có căn cứ áp dụng đồng nhất trong quá trình xử lý hồ sơ.

Bên cạnh đó, cần xây dựng danh mục tham chiếu quốc gia và quốc tế, bao gồm cơ sở dữ liệu về các cơ sở giáo dục nước ngoài được công nhận và hệ thống văn bằng hợp lệ. Điều này sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào đánh giá mang tính chủ quan của từng đơn vị, đồng thời tăng tính minh bạch trong quá trình công nhận văn bằng.

Theo thầy Quang, khi vai trò của nền tảng số hóa và liên thông dữ liệu ngày càng được thể hiện rõ nét, toàn bộ hồ sơ và quy trình xử lý cần được thực hiện trên một hệ thống chung, cho phép người học tra cứu, theo dõi tiến độ xử lý minh bạch. Đồng thời kết nối với cơ sở dữ liệu văn bằng quốc gia để tăng hiệu quả xác minh, đối chiếu thông tin.

Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng cơ chế hậu kiểm và kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với các đơn vị được phân cấp, kèm theo chế tài rõ ràng trong trường hợp công nhận sai hoặc thực hiện không đúng quy định. Việc phân cấp cũng chỉ nên áp dụng đối với những đơn vị đáp ứng đầy đủ yêu cầu về đội ngũ chuyên môn, hạ tầng công nghệ và quy trình nội bộ minh bạch.

Chưa kể, cần có cơ chế phản hồi, khiếu nại để người học có thể phản ánh nếu gặp tình trạng xử lý thiếu thống nhất hoặc được xem xét lại ở cấp cao hơn khi cần thiết.

ĐÀO HIỀN