Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đăng tải dự thảo Nghị định quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian để lấy ý kiến góp ý rộng rãi theo quy định.
Tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình
Dự thảo Nghị định quy định đầy đủ các khía cạnh tự chủ của cơ sở giáo dục không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính, bao gồm: tự chủ về học thuật, chuyên môn; tự chủ về nghiên cứu khoa học; tự chủ về cơ cấu tổ chức, nhân sự; tự chủ về hợp tác quốc tế; tự chủ về tài chính, tài sản, đầu tư.
Trong đó, người đứng đầu cơ sở giáo dục được toàn quyền quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở giáo dục.
Các khoản chi này bao gồm: chi trả tiền lương, thuê chuyên gia, chi hoạt động chuyên môn, quản lý, dịch vụ, trả lãi vay (đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp) và các khoản chi cần thiết khác phục vụ trực tiếp việc thực hiện nhiệm vụ. Việc chi tiêu phải tuân thủ nguyên tắc gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm tiến độ, chất lượng; thực hiện công khai, minh bạch và được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ.
Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục được phân loại "bảo đảm chi thường xuyên" hoặc "chưa tự bảo đảm chi thường xuyên" để đảm bảo nguồn lực đầu tư phát triển, đặc biệt đối với các ngành, lĩnh vực chiến lược, khoa học cơ bản và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời, dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục với người học và xã hội trong thực hiện các quyền tự chủ nêu trên.
Một số nội dung cơ bản trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cơ sở giáo dục như sau:
Về học thuật và chuyên môn: Cơ sở giáo dục được quyết định phê duyệt và thực hiện chương trình giáo dục, đào tạo thuộc các nhóm ngành, lĩnh vực và tại địa điểm được cấp phép hoạt động, bảo đảm đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chuân chương trình đào tạo (khoản 2 Điều 5).
Về cơ cấu tổ chức, nhân sự: Cơ sở giáo dục được tự chủ xác định vị trí việc làm, tuyển dụng, ký hợp đồng lao động đối với chuyên gia, nhà khoa học có trình độ tiến sĩ là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy chế nội bộ của đơn vị; quyết định, tự chịu trách nhiệm trong việc tuyển dụng, xác nhận đối tượng miễn giấy phép lao động cho chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài trong thời hạn không quá 03 năm để thực hiện công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học (khoản 2 Điều 7).
Về hợp tác quốc tế: Cơ sở giáo dục được chủ động thực hiện liên kết đào tạo với cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp hợp pháp, có uy tín của nước ngoài theo đề án do cơ sở giáo dục phê duyệt mà không phải xin phép (tiền kiểm) từ cơ quan quản lý nhà nước vơi điều kiện: (i) Cơ sở GDĐH và cơ sở GDNN của nước ngoài được thành lập hợp pháp và được cơ quan có thẩm quyền nước sở tại công nhận về hoạt động đào tạo; (ii) Chương trình đào tạo của nước ngoài đã được kiểm định hoặc được cơ quan có thẩm quyền nước sở tại cho phép cấp văn bằng (Điều 8).
Về tài chính, đầu tư:
+ Người đứng đầu cơ sở giáo dục được toàn quyền quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo theo đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ; bao gồm chỉ trả tiền lương, thuê chuyên gia, chỉ hoạt động chuyên môn, quản lý, dịch vụ, trả lãi vay và các khoản chi cần thiết khác theo nguyên tắc gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm tiển độ, chất lượng; thực hiện chi tiêu công khai, minh bạch và được quy định trong Quy chể chi tiêu nội bộ (khoản 2 Điều 9).
+ Cơ sở giáo dục được huy động vốn vay từ các tổ chức tín dụng, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác theo hình thức tín dụng ưu đãi theo quy định để đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng số, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành và các dự án phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo (khoản 5 Điều 9).
+ Người đứng đầu cơ sở giáo dục được quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài bằng tiền, hiện vật, trí tuệ, dịch vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan chủ quản về quyết định (khoản 6 Điều 9).
Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Dự thảo Nghị định quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Luật Giáo dục, pháp luật có liên quan và dựa trên sứ mạng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục (Điều 11).
Cụ thể: Thứ nhất, phân bố dựa trên sứ mạng của cơ sở giáo dục
a) Ưu tiên phân bổ ngân sách cho các cơ sở giáo dục thực hiện sứ mạng là cơ sở trọng điểm quốc gia, trọng điểm vùng, trường chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế; các nhiệm vụ, dự án, chương trình, ngành nghề trọng điêm đào tạo nhân lực trình độ cao, chât lượng cao.
b) Đảm bảo ngân sách cho các cơ sở giáo dục thực hiện sứ mạng an sinh xã hội tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hải đảo;
c) Bảo đảm phần chi phí thực hiện dịch vụ chưa tính vào giá theo lộ trình tính giá theo danh mục Dịch vụ sự nghiệp cộng sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo và giáo dục nghề nghiệp do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Thứ hai, phân bố dựa trên chật lượng và hiệu quả hoạt động a) Căn cứ vào công bố hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo về kết quả thực hiện Chuẩn cơ sở giáo dục đại học và Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp b) Căn cứ vào mức độ sẵn sàng, năng lực quản trị và kết quả giải ngân thực tê của cơ sở giáo dục.
Thứ ba, phân bổ dựa trên hiệu quả hoạt động với các chỉ số kết quả đầu ra cụ thể:
a) Tỷ lệ người học có việc làm đúng chuyên môn và sự hải lòng của đơn vị sử dụng lao động.
b) Quy mô chỗ học mới được tạo thêm và tỷ lệ tăng trưởng số lượng công bố quốc tế, chuyển giao công nghệ trở lên.
c) Hiệu suất sử dụng tài sản, trang thiết bị sau đầu tư so với công suất thiết kế
Thứ tư, định kỳ đánh giá hiệu quả của các nhiệm vụ, dự án, chương trình; trường hợp không đạt mục tiêu đã cam kết, cơ quan có thẩm quyền thực hiện điều chỉnh, cắt giảm kể hoạch ngân sách trung hạn và hàng năm của cơ sở giáo dục.
Dự thảo quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện, chính sách và mức hỗ trợ, học bổng đối với các nhóm người học:
(1) Ngành đào tạo giáo viên, đào tạo tài năng; người học các ngành, nghề thuộc lĩnh vực năng khiếu nghệ thuật, thể thao;
(2) Ngành đào tạo khoa học cơ bản, ngành, nghề đặc thù và ngành, nghề cần thiết cho phát triển đất nước nhưng khó thu hút người học;
(3) Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, các ngành, nghề kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng quy định về phương thức thực hiện các chính sách nêu trên; xác định học phí và mức trần học phí; quy định về đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo, qua đó tạo cơ sở pháp lý để các chủ trương tại Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục đào tạo sớm đi vào cuộc sống.
Chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian
Về đối tượng, dự thảo Nghị định áp dụng cho nghiên cứu sinh trúng tuyển theo học các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học trong nước, thuộc nhóm ngành, lĩnh vực của chương trình trọng điểm quốc gia do Thủ tướng quyết định; nghiên cứu sinh trúng tuyển theo học tại các cơ sở giáo dục đại học triển khai các đề án phát triển (cơ sở giáo dục trọng điểm, nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á).
Chương trình được áp dụng đối với hình thức đào tạo chính quy, tập trung toàn thời gian; gắn đào tạo tiến sĩ với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc triển khai thực hiện tại các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng chuẩn cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ theo quy định hiện hành.
Dự thảo Nghị định quy định nguyên tắc hỗ trợ cho nghiên cứu sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, khoa học công nghệ và các quy định liên quan. Đáng chú ý, nghiên cứu sinh không đồng thời hưởng chính sách hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước trong thời gian học tập, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Chi tiết Dự thảo Nghị định xem TẠI ĐÂY.