Dự thảo Thông tư về công nhận văn bằng nước ngoài đang nhận được nhiều góp ý. Các chuyên gia cho rằng quy định mới cần thống nhất với cơ chế tự chủ đại học, bảo đảm tính pháp lý và tránh phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.
Đáng chú ý, một số quy định tại Điều 4 và Điều 5 của dự thảo, liên quan trực tiếp đến điều kiện và thẩm quyền công nhận văn bằng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các cơ sở giáo dục. Nhiều chuyên gia lo ngại cách diễn đạt hiện tại của hai điều khoản này chưa thống nhất với cơ chế tự chủ mà Nhà nước đang trao cho các cơ sở giáo dục, có thể tạo ra khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị văn bằng và quyền lợi người học.
Sẽ là bất cập nếu tự chủ bị vô hiệu hóa ở đầu vào
Cụ thể, Điều 4 của dự thảo Thông tư đưa ra những yêu cầu đối với văn bằng được cấp trong các trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, đào tạo theo phương thức từ xa, cũng như quy định về tương đương trình độ và thời lượng đào tạo.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế ghi nhận dự thảo Thông tư nếu được thông qua có thể khắc phục được khó khăn trong việc xác định mức độ tương đương giữa Khung trình độ quốc gia với các hệ thống khác trong khu vực và quốc tế. Đồng thời, phân định thẩm quyền giữa các cơ quan có liên quan, cắt giảm các thủ tục giấy tờ thông qua khai thác dữ liệu số, các dịch vụ trực tuyến, bao quát hơn các loại hình đào tạo trực tuyến, liên kết trực tuyến.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế. Ảnh: NVCC
Tuy nhiên, thầy Huy cũng bày tỏ băn khoăn về tính thống nhất của dự thảo đối với cơ chế tự chủ đại học. Bởi, mặc dù dự thảo đưa ra các mục tiêu đúng đắn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng cách diễn đạt hiện tại của dự thảo có thể gây mâu thuẫn hệ thống, đi ngược lại chính sách tự chủ mà Nhà nước đang thực thi, ảnh hưởng đến quyền lợi người học và giá trị pháp lý văn bằng.
Cùng đánh giá về dự thảo Thông tư liên quan đến công nhận văn bằng nước ngoài, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đồng tình việc ban hành thông tư mới vừa cần thiết, vừa cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng. Bởi, số lượng du học sinh và các chương trình liên kết quốc tế của Việt Nam đang gia tăng, quy trình công nhận văn bằng cũ đã bắt đầu không phù hợp so với thực tế.
Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.
Tuy nhiên, Điều 4 của dự thảo Thông tư còn tồn tại mâu thuẫn. Cụ thể Nghị định số 125/2024/NĐ-CP của Chính phủ trao quyền tự chủ liên kết đào tạo cho các trường đủ điều kiện, không cần xin phép Bộ, chỉ cần báo cáo. Nhưng cách diễn đạt trong dự thảo có thể bị hiểu là chỉ chương trình có văn bản Bộ cho phép mới được công nhận, dẫn đến nguy cơ chưa thống nhất với cơ chế tự chủ và cơ chế hậu kiểm hiện hành. Trong khi đó, thực tế nhiều chương trình liên kết đang triển khai hợp pháp theo cơ chế tự chủ.
Trước vấn đề này, các chuyên gia kiến nghị bổ sung diễn giải rõ theo hướng công nhận các chương trình triển khai đúng quy định về tự chủ, tránh gây ra khoảng trống pháp lý không đáng có.
Công nhận văn bằng cần bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ
Bên cạnh những băn khoăn về Điều 4, quy định về thẩm quyền công nhận văn bằng tại Điều 5 cũng thu hút nhiều ý kiến. Về thẩm quyền công nhận văn bằng của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, dự thảo đưa ra 2 phương án:
Phương án 1: Sửa đổi quy định hiện hành theo hướng phân cấp cho người đứng đầu đơn vị cung cấp dịch vụ công về công nhận văn bằng.
Phương án 2: Giữ quy định hiện hành, theo đó thủ trưởng đơn vị có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước về công tác văn bằng, chứng chỉ có thẩm quyền công nhận văn bằng của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy cho rằng, với cách tiếp cận quản lý hiện đại, phương án 1 giúp phân cấp cho các đơn vị dịch vụ chuyên trách có đủ điều kiện, đội ngũ và năng lực. Song, phương án này có nhược điểm là thiếu sự đồng nhất, mỗi nơi có thể có một cách làm khác nhau khiến dữ liệu không đồng bộ. Trong khi đó, phương án 2 có tính khả thi cao, không gây xáo trộn cho hệ thống, Bộ chủ quản có đủ công cụ, nhân lực, dữ liệu, văn bản pháp quy để quản lý thuận lợi.
Thầy Huy cũng nhấn mạnh, để có sự giám sát của toàn xã hội, nên có cơ chế yêu cầu công bố công khai các trường hợp sử dụng hồ sơ không trung thực, văn bằng không hợp pháp, chương trình liên kết có vi phạm.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, phương án 2 tối ưu hơn. Đánh giá về phương án 1, thầy Tùng nhận định đây là hướng tiếp cận tạo ra nhiều lựa chọn cho người dân, đồng thời giảm tải cho các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, hạn chế của phương án này là có thể dẫn đến sự thiếu thống nhất giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ công trong việc công nhận văn bằng, gây ùn tắc hồ sơ, kéo dài thời gian xác nhận bằng, đi ngược chủ trương phân quyền và cải cách hành chính của Chính phủ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Ảnh: NVCC
Chẳng hạn, một người dân sử dụng dịch vụ công của đơn vị A (có thẩm quyền) để đề nghị công nhận một văn bằng do một trường đại học nước ngoài cấp. Nếu đơn vị A rà soát và không công nhận văn bằng này, người dân có thể tiếp tục tìm đến đơn vị B (cũng có thẩm quyền) và đơn vị B lại công nhận văn bằng đó. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế, dẫn đến sự thiếu thống nhất.
Đối với phương án 2, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Thanh Tùng cho rằng phương án này bảo đảm an toàn pháp lý, tính đồng bộ và thống nhất trong công nhận văn bằng, tạo niềm tin cho người dân. Do đó, thầy Tùng đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn phương án 2, những khó khăn của phương án này hoàn toàn có thể khắc phục thông qua việc tăng cường nhân lực và ứng dụng công nghệ.
Tiến sĩ Thái Doãn Thanh cũng đồng quan điểm, phương án 2 là phương án duy trì sự chặt chẽ và tính pháp lý cao nhất, bảo đảm mọi văn bằng đều được đối chiếu qua một "màng lọc" duy nhất, hạn chế tối đa sai sót hoặc gian lận mang tính hệ thống, đồng thời không gây xáo trộn bộ máy tổ chức và quy trình đang vận hành.
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.
Có thể thấy, việc sửa đổi quy định về công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp là cần thiết trong bối cảnh giáo dục Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế và chuyển đổi số mạnh mẽ. Tuy nhiên, để dự thảo Thông tư thực sự đi vào cuộc sống, các quy định cần được thiết kế theo hướng thống nhất với cơ chế tự chủ đại học, bảo đảm tính đồng bộ trong quản lý dữ liệu và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết.
Theo các chuyên gia, đây là điều kiện quan trọng để vừa bảo đảm tính pháp lý, minh bạch và thống nhất trong công nhận văn bằng, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học cũng như các cơ sở đào tạo đang triển khai hợp pháp các chương trình hợp tác, liên kết quốc tế.