Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Nghị định ban hành Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia để lấy ý kiến rộng rãi.
Theo dự thảo, Quỹ học bổng tổ chức 5 chương trình học bổng bao gồm: học bổng tài năng; học bổng đi học tại nước ngoài; học bổng theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; học bổng thu hút người nước ngoài học tại Việt Nam; học bổng tạo cơ hội phát triển đối với người học thuộc các nhóm ưu tiên.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, hiện hạ tầng nghiên cứu, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ cũng như hệ thống hỗ trợ dành cho người học quốc tế vẫn còn hạn chế. Do đó, bên cạnh quỹ học bổng Quốc gia cần có thêm nhiều chính sách đồng bộ để thu hút người học.
Việc thu hút sinh viên nước ngoài tới Việt Nam học tập còn nhiều khó khăn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho hay: Việc thu hút người nước ngoài học tập tại Việt Nam ngoài chế độ học bổng cần xem xét tới năng lực tiếp nhận thực tế của cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo, nghiên cứu và trải nghiệm học tập cho sinh viên quốc tế.
Trên thực tế, nhiều cơ sở giáo dục hiện vẫn gặp khó khăn về hạ tầng nghiên cứu, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ cũng như hệ thống hỗ trợ dành cho người học quốc tế.
“Không ít trường còn thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, hệ sinh thái học thuật mang tính quốc tế, trong khi ký túc xá và các dịch vụ sinh hoạt cho sinh viên nước ngoài chưa thật sự đồng bộ.
Bên cạnh đó, năng lực hỗ trợ ngôn ngữ, tư vấn học thuật, tâm lý hay hướng dẫn thủ tục hành chính tại một số đơn vị vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, ảnh hưởng đến khả năng thích nghi và trải nghiệm của người học. Môi trường quốc tế hóa trong trường học cũng chưa mạnh, khi các hoạt động giao lưu văn hóa, kết nối doanh nghiệp và trao đổi học thuật quốc tế còn hạn chế.
Do đó, cần có chính sách đầu tư đồng bộ hơn về cơ sở vật chất, hạ tầng số và hệ sinh thái hỗ trợ quốc tế tại các cơ sở giáo dục. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ riêng để các trường nâng cao năng lực quốc tế hóa, phát triển chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ, đào tạo đội ngũ hỗ trợ sinh viên quốc tế và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức quốc tế.
Việc xây dựng môi trường học tập an toàn, thân thiện, chất lượng và giàu bản sắc văn hóa sẽ là yếu tố quan trọng giúp nâng cao sức hút của giáo dục Việt Nam đối với người học quốc tế trong thời gian tới”, cô Phương cho hay.
Trong khi đó, Thạc sĩ Trần Thanh Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội nhận định, một chính sách học bổng thực sự nhân văn không nằm ở việc “chia đều” nguồn lực, mà phải bảo đảm mức hỗ trợ đủ lớn để người học được giải phóng khỏi áp lực tài chính và gánh nặng sinh tồn, từ đó có thể dành toàn tâm toàn ý cho học thuật, nghiên cứu và sáng tạo.
Thầy Bình cho rằng mức hỗ trợ sinh hoạt phí cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, điều chỉnh theo chỉ số giá sinh hoạt (Cost of Living Index) của từng quốc gia hoặc từng vùng kinh tế tại Việt Nam nhằm bảo đảm tính thực tế và công bằng giữa các nhóm người học.
“Theo thông lệ quốc tế, du học sinh hoặc sinh viên quốc tế đến Việt Nam thường đối mặt với việc thích nghi với môi trường mới, văn hóa, và áp lực tâm lý sâu sắc.
Quỹ nên cơ cấu một khoản linh hoạt dành cho chi phí chăm sóc sức khỏe tinh thần, tư vấn tâm lý, hoặc tham gia các khóa hòa nhập văn hóa. Đây là rào chắn an toàn giúp bảo vệ "nguồn vốn nhân tài" không bị gãy đổ giữa chừng vì lý do tâm lý”, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội nêu quan điểm.
Nên phân bổ quỹ học bổng theo "rổ chi tiêu", có cơ chế bồi hoàn minh bạch và nhân văn
Một vấn đề được dư luận và các cơ sở giáo dục quan tâm là cách phân bổ quỹ học bổng để bảo đảm công bằng. Thực tế hiện nay cho thấy sự chênh lệch giữa các trường tọa lạc tại đô thị lớn với các cơ sở đào tạo tại địa phương, cũng như giữa khối ngành kinh tế với khối khoa học cơ bản, kỹ thuật hay giáo dục nghề nghiệp là nguy cơ hiện hữu nếu không có cơ chế phân bổ hợp lý.
Về vấn đề này, Thạc sĩ Trần Thanh Bình khẳng định, việc phân bổ quỹ học bổng cần được thiết kế theo hướng bảo đảm công bằng giữa các cơ sở giáo dục cũng như giữa các nhóm ngành đào tạo, tránh tình trạng nguồn lực tập trung quá lớn vào một số trường hoặc lĩnh vực có lợi thế sẵn có.
Từ góc độ quản lý, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội cho rằng quỹ học bổng nên được chia thành các “rổ chỉ tiêu” độc lập, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Chẳng hạn, có thể dành tỷ lệ nhất định cho khoa học cơ bản, giáo dục nghề nghiệp, công nghệ lõi, sư phạm hay y tế nhằm bảo đảm sự cân đối trong phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, quá trình xét chọn cần chuyển từ cách đánh giá dựa hoàn toàn vào điểm số tuyệt đối sang đo lường sự tiến bộ và năng lực phát triển của người học.
“Một sinh viên nỗ lực vươn lên xuất sắc tại các trường cao đẳng, trường đại học địa phương xứng đáng được đánh giá tương đương, thậm chí ưu tiên hơn những trường hợp có nhiều điều kiện thuận lợi tại các cơ sở đào tạo ở thành phố lớn. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính công bằng, liêm chính trong phân bổ học bổng mà còn góp phần phá vỡ thế độc quyền cơ hội của một nhóm nhỏ cơ sở giáo dục”, thầy Bình chia sẻ.
Cũng theo Thạc sĩ Trần Thanh Bình, cơ chế bồi hoàn học bổng cần được thiết kế theo hướng hài hòa giữa việc bảo vệ ngân sách nhà nước và bảo đảm tính nhân văn của chính sách giáo dục. Nếu áp dụng cách thu hồi cứng nhắc, người học rất dễ rơi vào khủng hoảng tâm lý kéo dài và bế tắc tài chính, đặc biệt trong những trường hợp gặp biến cố ngoài mong muốn. Vì vậy, điều quan trọng là phải phân loại rõ nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm cam kết hoặc dừng học giữa chừng.
Đối với các trường hợp cố tình gian lận, vi phạm đạo đức hay phá vỡ cam kết đào tạo, cần áp dụng cơ chế thu hồi toàn bộ kinh phí kèm chế tài phù hợp để bảo đảm tính nghiêm minh và kỷ cương pháp lý.
Tuy nhiên, với những trường hợp bất khả kháng như suy giảm sức khỏe thể chất, tinh thần, biến cố gia đình hoặc không thể thích nghi với môi trường học tập, theo thầy Bình, cần có hội đồng đánh giá độc lập về y tế và tâm lý để xem xét toàn diện. Nếu lý do được xác định là chính đáng, Nhà nước nên có cơ chế giãn nợ, giảm mức bồi hoàn hoặc miễn hoàn trả kinh phí nhằm tạo điều kiện cho người học vượt qua khó khăn.
Bên cạnh đó, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội cũng đề xuất một hướng tiếp cận linh hoạt hơn là cơ chế “bồi hoàn bằng thời gian và sức lao động”. Theo đó, thay vì buộc người học hoàn trả tài chính ngay lập tức, có thể cho phép họ tham gia giảng dạy, hỗ trợ tại các cơ sở giáo dục địa phương, vùng sâu vùng xa hoặc đóng góp cho dự án cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo thầy Bình, cách làm này vừa bảo đảm giá trị xã hội tương đương cho nguồn ngân sách đã đầu tư, vừa thể hiện tinh thần giáo dục hướng thiện, không triệt tiêu cơ hội tiếp tục phát triển của người học.
Còn theo Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang - Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế, việc phân bổ quỹ học bổng cần được thực hiện theo nguyên tắc “công bằng nhưng không cào bằng” để tránh tạo ra chênh lệch cơ hội giữa các cơ sở giáo dục, ngành học hay vùng miền.
Thầy Giang nhấn mạnh nếu chỉ dựa vào quy mô tuyển sinh hoặc thành tích nghiên cứu, các trường ở thành phố lớn sẽ luôn chiếm ưu thế. Vì vậy, cơ chế phân bổ cần kết hợp nhiều tiêu chí như chất lượng đầu ra, đặc thù ngành nghề, vai trò vùng miền và điều kiện khó khăn của người học nhằm bảo đảm tính hài hòa và phù hợp với thực tiễn.
Ngoài ra, cần dành tỷ lệ phân bổ nhất định cho khối giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là các ngành kỹ thuật – công nghệ trọng điểm, trong bối cảnh nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao ngày càng lớn nhưng sinh viên nghề vẫn còn ít cơ hội tiếp cận các học bổng đi học ở nước ngoài giá trị.
Bên cạnh đó, quỹ nên vận hành theo cơ chế cạnh tranh mở trên phạm vi toàn quốc nhưng có hệ số ưu tiên cho trường ở địa phương, vùng khó khăn hoặc các ngành chiến lược quốc gia để vừa bảo đảm chất lượng, vừa giảm khoảng cách cơ hội.
“Việc công khai dữ liệu phân bổ cũng là yếu tố quan trọng. Các thông tin về số lượng học bổng, tỷ lệ phân bổ theo ngành, tiêu chí xét chọn và kết quả giải ngân cần được công khai để hạn chế tâm lý “xin - cho”.
Đồng thời, việc phân bổ nên chuyển dần từ cách tiếp cận dựa trên đầu vào sang đánh giá hiệu quả đầu ra, ưu tiên những cơ sở đào tạo có tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm cao, có nghiên cứu – sáng tạo hoặc đóng góp tích cực cho xã hội”, Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế bày tỏ.
Về cơ chế bồi hoàn, theo thầy Giang, cơ chế cần được thiết kế theo hướng bảo đảm tính ràng buộc nhưng không quá cứng nhắc, có sự phân loại rõ giữa các trường hợp vi phạm cố ý và những trường hợp bất khả kháng như bệnh tật, tai nạn, biến cố gia đình hay khó khăn tài chính. Với các nguyên nhân khách quan, cần có cơ chế xem xét miễn, giảm hoặc giãn nghĩa vụ hoàn trả để bảo đảm tính nhân văn và công bằng.
“Việc bồi hoàn nên được tính theo tỷ lệ, căn cứ vào mức độ hoàn thành nghĩa vụ hoặc thời gian đóng góp thực tế của người học, thay vì yêu cầu hoàn trả toàn bộ trong mọi trường hợp. Đồng thời, cần linh hoạt cho phép người học chuyển đổi nghĩa vụ phục vụ sang các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ hoặc địa phương khó khăn nếu vẫn đúng chuyên môn đào tạo và tiếp tục đóng góp cho xã hội. Với những trường hợp phải bồi hoàn, nên có lộ trình trả dần để tránh tạo áp lực tài chính quá lớn cho người trẻ.
Cơ chế ràng buộc chỉ nên là giải pháp cuối cùng. Điều quan trọng hơn là xây dựng môi trường làm việc tốt, có chính sách đãi ngộ phù hợp và cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng để người học nhìn thấy triển vọng phát triển trong nước, từ đó người đi học ở nước ngoài chủ động quay trở về và gắn bó lâu dài”, Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang cho hay.