Hà Nội phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm

14/05/2026 15:11
Thi Thi

GDVN- Quy hoạch xác định quan điểm xuyên suốt là xây dựng và phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc"; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển.

Ngày 13/5/2026, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng đã ký Quyết định số 2512/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là đồ án chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với định hướng phát triển lâu dài của Thủ đô.

Xây dựng và phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc"

Quy hoạch xác định quan điểm xuyên suốt là xây dựng và phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc"; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đặt văn hoá ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, "Văn hiến - Bản sắc -Sáng tạo" là giá trị cốt lõi xuyên suốt, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm, nền tảng hình thành bản lĩnh, trí tuệ và động lực phát triển. Phát triển Thủ đô nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại, bao trùm gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu; giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, ổn định theo không gian phát triển mở, cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm", lấy Sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hoá chủ đạo; gắn kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc và các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế.

8ecd6e82-b016-49c2-8fac-d5dd7c0dbde7.jpg
Ảnh minh họa: T.H

Bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; Phát triển theo hướng phù hợp điều kiện tự nhiên và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Thủ đô đóng vai trò điều phối trung tâm kiểm soát các vấn đề ô nhiễm môi trường vùng.

Mục tiêu tổng quát đến năm 2035: Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; trung tâm nghiên cứu, phát triển; giữ vai trò hạt nhân trong các chuỗi liên kết phát triển vùng Thủ đô, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc.

Đến năm 2045: Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.

Đến năm 2065: Thủ đô Hà Nội là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới.

Đến năm 2085 và xa hơn: Một trong những trung tâm có tầm ảnh hưởng lớn trong mạng lưới các thành phố khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu, dẫn dắt các xu hướng phát triển đô thị thông minh, kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo, là siêu đô thị bền vững tiêu biểu, tác động quốc tế sâu rộng.

10 nhiệm vụ trọng tâm

Thứ nhất, về bảo vệ môi trường và xử lý úng ngập: Giải quyết cơ bản ô nhiễm nguồn nước, không khí và chất thải bằng công nghệ hiện đại, theo hướng tuần hoàn và phối hợp liên vùng. Phục hồi sức sống cho các dòng sông: Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, Tích, Cầu Bây…, nghiên cứu xây dựng đập dâng trên sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ để quản trị tổng hợp lưu vực. Xóa bỏ tình trạng ngập úng bằng hệ thống hồ điều hòa, kết hợp các ao, hồ, sông, kênh, mương và các công trình tiêu thoát, hệ thống bể ngầm trữ nước mưa. Tách, xử lý nước thải triệt để, tái sử dụng, bổ cập nước tưới tiêu và làm sạch các dòng sông. Đẩy mạnh lộ trình phát triển xanh, “xanh hóa” nội đô, chuyển dịch sang năng lượng sạch và chủ động tham gia thị trường cácbon để giảm phát thải bền vững.

Thứ hai, về trật tự đô thị và ùn tắc giao thông: Cơ bản xử lý dứt điểm các điểm ùn tắc kéo dài vào năm 2030; ưu tiên phân tán lưu thông ra ngoài nội đô; phát triển mở rộng các tuyến giao thông dọc sông, giảm tải áp lực trực tiếp cho các trục đường vành đai và hướng tâm, kiến tạo trục động lực kết nối liên vùng, liên tỉnh bền vững. Bổ sung các tuyến kết nối giao thông đường bộ và đường sắt giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận. Đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông đường bộ, các cầu qua sông, hệ thống đường sắt đô thị để mở rộng không gian phát triển đô thị, giảm tải cho giao thông nội đô, tăng cường hệ thống giao thông liên khu vực liên kết các khu đô thị mới, đô thị cũ, kết hợp cải tạo, tái thiết xây dựng lại các ô phố cũ, khu vực dân cư cũ. Đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị, gắn với việc phục hồi cảnh quan hai bên bờ sông.

bab84e4a-7f98-42b9-a536-980c6f04ed7c.jpg
Ảnh minh họa: T.H

Thứ ba, về vệ sinh an toàn thực phẩm: Quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung và mạng lưới giết mổ công nghiệp, tập trung, xây dựng hệ thống dữ liệu số truy xuất nguồn gốc thực phẩm toàn Thành phố và ứng dụng công nghệ trong việc tiếp nhận phản hồi từ người dân. Siết chặt quản lý vận chuyển, kinh doanh động vật; chuẩn hóa và quy hoạch lại các điểm kinh doanh thức ăn đường phố gắn liền với đào tạo bắt buộc về an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe cộng đồng và văn minh đô thị.

Thứ tư, về phát triển kinh tế: Xác lập mô hình tăng trưởng mới tập trung hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước năm 2030, chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển không gian kinh tế Thủ đô theo hướng mở, linh hoạt, gắn với các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng. Xây dựng, phát triển và nâng cao hiệu quả khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do, khu công nghệ cao, khu công nghiệp công nghệ cao, thông minh và sinh thái.

Thu hút đầu tư có chọn lọc vào các ngành công nghệ cao, thân thiện với môi trường, giá trị gia tăng lớn như điện tử, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics, công nghệ số,... Phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa, thị trường các dịch vụ văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn định vị thương hiệu Hà Nội – Thành phố sáng tạo trong khu vực và thế giới. Các giá trị văn hóa Thăng Long – Hà Nội trở 7 thành trụ cột xác định sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi để khu vực tư nhân tiếp cận nguồn lực về đất đai, tín dụng, nhân lực chất lượng cao. Kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân với khối doanh nghiệp nhà nước và FDI nhằm hình thành các chuỗi cung ứng bền vững.

Thứ năm, về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thủ đô do Hà Nội sáng tạo, thiết kế và làm chủ công nghệ, lấy Khu Công nghệ cao Hoà Lạc làm hạt nhân. Ứng dụng dữ liệu số, mô hình mô phỏng và phân tích dự báo để hỗ trợ ra quyết định và nâng cao hiệu quả quản lý. Hoàn thiện các quy định, xây dựng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và đơn giá đặc thù trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Xây dựng, triển khai hệ thống “bài toán lớn” của Thành phố làm cơ sở đặt hàng, tổ chức triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển hệ thống viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm, thử nghiệm trọng điểm của Thủ đô theo hướng tập trung, tránh dàn trải. Triển khai mô hình liên kết Nhà nước - Nhà trường - Nhà đầu tư trong việc đồng đầu tư và vận hành phòng thí nghiệm trọng điểm. Hình thành hệ sinh thái nhân tài khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Thủ đô.

Thứ sáu, về chuyển đổi số: Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong mọi lĩnh vực, tạo lập nền tảng cho lực lượng sản xuất mới, xây dựng Thành phố thông minh với người dân và doanh nghiệp là trung tâm. Phát triển đồng bộ hạ tầng số, nền tảng AI dùng chung và chuẩn hóa kho dữ liệu tri thức để tạo nguồn đầu vào cho nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ lõi và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Phát triển mạnh mẽ tài nguyên số, kinh tế số tạo động lực mới cho tăng trưởng; phát triển hạ tầng viễn thông, hạ tầng số, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ như: điện toán đám mây, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối,… phù hợp với định hướng phát triển của Thủ đô. Đảm bảo an ninh mạng và cơ sở dữ liệu; hình thành hệ sinh thái số an toàn, tin cậy.

Thứ bảy, về tái cấu trúc đô thị: Chiến lược tái cấu trúc không gian đô thị tập trung vào mô hình đa cực - đa trung tâm với cấu trúc đa tầng, nhằm phân bổ lại dân cư và hạ tầng một cách hợp lý. Tái cấu trúc tập trung vào khu vực nội đô lịch sử với ưu tiên bảo tồn các không gian có giá trị đặc thù (Trung tâm chính trị - hành chính Ba Đình; hồ Gươm và vùng phụ cận; Văn Miếu - Quốc Tử Giám; phố Cổ; phố Cũ; Hồ Tây và vùng phụ cận; trục sông Hồng;...), giảm mật độ xây dựng và khai thác không gian cao tầng tại một số địa điểm khu vực trung tâm để dành quỹ đất cho công viên, cây xanh và tiện ích công cộng. Tái cấu trúc về sử dụng đất và không gian, cảnh quan, ưu tiên các chức năng có giá trị kinh tế cao. Tích hợp chặt chẽ các khu tái thiết với hệ thống giao thông công cộng, không gian ngầm (TOD). Phát triển nông thôn hiện đại, sinh thái, giàu bản sắc, đảm bảo chất lượng sống hiện đại và trong lành với tiêu chuẩn tiệm cận khu vực đô thị.

Thứ tám, về nguồn nhân lực: Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như công nghệ cao, tài chính và quản trị công. Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao của cả nước thông qua việc liên kết giáo dục quốc tế và vận hành mô hình “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”. Thiết lập các cơ chế đặc thù, vượt trội để thu hút nhân tài, chuyên gia đầu ngành đóng vai trò “Tổng công trình sư”, “Kiến trúc sư trưởng” 8 cho các bài toán lớn của Thủ đô. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chuyên nghiệp, có tư duy khoa học, đi kèm cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Thứ chín, về mô hình quản trị Thủ đô và phát triển vùng Thủ đô: Xác lập mô hình quản trị Thủ đô thông minh, hiện đại, dựa trên dữ liệu và theo thời gian thực, với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, từ phân tán sang tích hợp, đồng bộ, từ ngắn hạn sang dài hạn, bền vững. Thực hiện phân cấp, phân quyền triệt để, mở rộng quyền tự chủ về bộ máy, biên chế và tài chính. Xây dựng cơ chế thí điểm, thử nghiệm có kiểm soát, các cơ chế, chính sách mới hoặc khác với quy định của pháp luật. Chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan thống nhất quyết định các vấn đề liên vùng về: Quy hoạch; đầu tư, khai thác và vận hành hạ tầng liên vùng gắn với Quỹ phát triển vùng; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn chung đối với các công trình hạ tầng liên vùng, hạ tầng giao thông kết nối; phát triển chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành; xử lý ô nhiễm môi trường, trọng tâm là ô nhiễm nước và không khí. Hướng tới hình thành, kết nối hành lang kinh tế biển Hà Nội - Hưng Yên - Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Thứ mười, xây dựng cấu trúc không gian đô thị đa tầng, đa lớp theo hướng đô thị lập thể (ngầm - mặt đất - trên cao), nhằm tối ưu hóa sử dụng đất và tích hợp các giá trị văn hóa, sinh thái, kinh tế và hạ tầng. Phát triển không gian ngầm theo mô hình “Điểm - Tuyến - Diện” gắn với TOD, gắn kết chặt chẽ với hệ thống giao thông công cộng và các khu vực trọng điểm. Trên mặt đất, nâng cao chất lượng không gian sống thông qua hệ thống không gian công cộng đa dạng, kết hợp TOD để gia tăng sức sống đô thị. Đồng thời, thúc đẩy kinh tế tầm thấp dựa trên đổi mới sáng tạo, xây dựng nền tảng số đô thị 3D và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm triển khai đồng bộ, hiệu quả phát triển không gian đô thị đa tầng, đa lớp.

Xem toàn bộ nội dung Quyết định số 2512/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm TẠI ĐÂY

Thi Thi