Trong bối cảnh chiến lược quốc gia đề cao vai trò của phát triển bền vững, việc hài hòa giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa đã trở thành một bài toán cấp bách. Hội thảo Khoa học Quốc gia “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững” do Trường Đại học Hạ Long phối hợp cùng Câu lạc bộ khối trường đào tạo Văn hóa - Nghệ thuật và Câu lạc bộ khối đào tạo Du lịch (thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) tổ chức là diễn đàn học thuật quan trọng nhằm trao đổi, thảo luận và đề xuất các luận cứ khoa học, giải pháp thực tiễn cho bài toán này, đặc biệt tập trung vào mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững.
Vai trò của các trường đào tạo văn hóa – nghệ thuật trong bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Đăng Phượng - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Khối các trường đào tạo Văn hóa - Nghệ thuật (thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) nhấn mạnh hệ thống các trường đào tạo văn hóa – nghệ thuật ở Việt Nam gồm các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên ngành phân bố từ trung ương đến địa phương, đảm nhận đào tạo nhân lực cho nhiều lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp văn hóa, bao gồm nghệ thuật biểu diễn trong tất cả các môn phái, mỹ thuật, thủ công nghệ thuật, điện ảnh, du lịch văn hóa và quản lý văn hóa.
Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngành du lịch văn hóa đang phát triển mạnh mẽ: tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP đã tăng từ 2,44% năm 2010 lên 3,61% năm 2018, tương đương 8.081 tỷ USD. Trong giai đoạn 2020 - 2025, tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế thuộc ngành công nghiệp văn hóa đạt bình quân khoảng 8% mỗi năm. Những số liệu này phản ánh nhu cầu nhân lực văn hóa – nghệ thuật đang tăng nhanh, trong khi hệ thống đào tạo chưa theo kịp cả về quy mô lẫn chất lượng.
Thực tế cho thấy Việt Nam đang thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, đặc biệt là nguồn nhân lực sáng tạo có khả năng đồng thời thực hành nghệ thuật chuyên sâu và truyền đạt giá trị di sản cho các đối tượng khán giả đa dạng. Điều này tạo ra khoảng trống lớn giữa tiềm năng di sản và khả năng khai thác di sản cho du lịch, khoảng trống mà chỉ đào tạo chuyên ngành chất lượng cao mới có thể thu hẹp.
Thầy Phượng khẳng định, điểm đặc thù căn bản nhất của các trường đào tạo văn hóa – nghệ thuật so với các cơ sở đào tạo khác là đội ngũ giảng viên thường đồng thời là nghệ sĩ hoặc nghệ nhân thực hành. Đây là yếu tố cốt lõi tạo nên khả năng truyền dạy di sản sống, bởi lẽ di sản phi vật thể không thể học từ sách giáo khoa mà chỉ hình thành qua tiếp xúc trực tiếp với người thực hành có chiều sâu kinh nghiệm.
Các trường đào tạo văn hóa - nghệ thuật cũng là môi trường duy trì thực hành nghệ thuật thường xuyên qua nhiều hình thức: câu lạc bộ nghệ thuật, biểu diễn học kỳ, tham gia festival và liên hoan nghệ thuật địa phương, quốc gia. Những hoạt động này vừa là phương tiện học tập, vừa là cơ chế bảo tồn di sản thông qua thực hành liên tục.
Chương trình đào tạo tại các trường văn hóa - nghệ thuật bao gồm các học phần về nghệ thuật truyền thống và di sản văn hóa địa phương, là nơi các bộ môn như ca trù, quan họ, cồng chiêng, hát xoan, múa rối nước và nghề thủ công truyền thống được duy trì trong chương trình học chính khóa và ngoại khóa. Ở các trường địa phương, chương trình đào tạo, thường phản ánh đặc trưng di sản của vùng miền, tạo nên mối liên kết hữu cơ giữa nhà trường và cộng đồng văn hóa địa phương – một điều mà các trường đào tạo đại trà không thể thực hiện.
Từ việc phân tích thực trạng và những tồn tại mang tính cấu trúc, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương đề xuất 5 giải pháp giúp các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch.
Thứ nhất là đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp di sản và du lịch. Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng tích hợp có hệ thống giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch. Mỗi ngành học chuyên ngành nghệ thuật truyền thống cần có module bắt buộc về du lịch văn hóa, bao gồm kỹ năng giới thiệu, trình diễn và giải thích di sản cho các đối tượng du khách đa dạng theo từng cấp độ hiểu biết.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế hợp tác liên khối có tính chiến lược. Hội thảo khoa học phối hợp giữa Câu lạc bộ Khối trường đào tạo Văn hóa – Nghệ thuật và Câu lạc bộ Khối đào tạo Du lịch của Hiệp hội là bước đầu xây dựng cơ chế hợp tác liên khối. Để chuyển từ liên kết học thuật đơn thuần sang hợp tác chiến lược thực chất, cần thành lập các nhóm công tác liên trường bao gồm đại diện từ cả hai khối, với nhiệm vụ cụ thể là cùng xây dựng khung chương trình đào tạo liên ngành nghệ thuật và du lịch; cùng xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm du lịch văn hóa; cùng nghiên cứu và đề xuất mô hình hợp tác với doanh nghiệp du lịch; và cùng xây dựng cơ chế trao đổi giảng viên, sinh viên giữa hai khối.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy gắn với nghệ nhân dân gian. Cần xây dựng chính sách đặc thù để tích hợp nghệ nhân dân gian vào hệ thống đào tạo chính thức. Chính sách này cần bao gồm: cơ chế công nhận năng lực thực hành như một tiêu chuẩn giảng dạy bổ sung hoặc thay thế cho bằng cấp trong các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống không thể đo bằng văn bằng thông thường; chế độ đãi ngộ phù hợp với đặc thù công việc và hoàn cảnh sống đa dạng của nghệ nhân; và hình thức mời giảng linh hoạt, không ràng buộc bởi yêu cầu hiện diện toàn thời gian vốn không phù hợp với lối sống và phương thức hành nghề của nhiều nghệ nhân.
Song song với việc đưa nghệ nhân vào giảng dạy, cần có kế hoạch ghi chép và tư liệu hóa có hệ thống kiến thức và kỹ năng của các nghệ nhân lớn tuổi trước khi những tri thức không thể viết thành văn bản này bị mất đi vĩnh viễn. Quá trình này vừa tạo ra nguồn học liệu giảng dạy, vừa là hành động bảo tồn khẩn cấp có giá trị khoa học độc lập.
Thứ tư, đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ phù hợp với đặc thù. Cơ sở vật chất của các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật cần được đầu tư theo tiêu chuẩn đặc thù của lĩnh vực, không thể áp dụng định mức chung của giáo dục đại trà vì chi phí và yêu cầu kỹ thuật của cơ sở hạ tầng nghệ thuật chuyên nghiệp cao hơn đáng kể. Cần ưu tiên đầu tư cho phòng tập và sân khấu đạt chuẩn nghệ thuật; trang thiết bị âm thanh và ánh sáng chuyên dụng; phòng thực hành nghề thủ công truyền thống đủ diện tích và tiện nghi; hệ thống lưu trữ cùng số hóa tư liệu di sản.
Về ứng dụng công nghệ số, cần đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin để triển khai phương pháp đào tạo kết hợp và xây dựng nền tảng số cho ghi chép và lưu giữ di sản phi vật thể. Tuy nhiên, phải nhất quán nhận thức rằng công nghệ là công cụ hỗ trợ, không phải là sự thay thế cho trải nghiệm thực hành trực tiếp trong đào tạo nghệ thuật.
Thứ năm, hoàn thiện chính sách hỗ trợ đặc thù. Ở cấp độ chính sách vĩ mô, cần thiết lập định mức đầu tư riêng cho khối trường đào tạo văn hóa – nghệ thuật, cao hơn mức bình quân toàn hệ thống giáo dục do đặc thù đào tạo thực hành chuyên sâu. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tự chủ tài chính gắn với nguồn thu từ hoạt động biểu diễn và du lịch, bảo đảm rằng các khoản thu này được quản lý minh bạch và tái đầu tư có trọng tâm vào bảo tồn và nâng cao chất lượng đào tạo. Chính sách thuế ưu đãi cho doanh nghiệp du lịch đặt hàng sản phẩm nghệ thuật từ các trường và sử dụng sinh viên thực tập cũng là công cụ chính sách cần được nghiên cứu áp dụng.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Bảo Lân - giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng có bài tham luận về "Đào tạo âm nhạc gắn với di sản văn hoá: đề xuất mô hình “giảng dạy - biểu diễn - du lịch” hướng tới phát triển du lịch bền vững".
Theo thầy Lân, trong thời đại hội nhập toàn cầu, di sản văn hóa ngày càng được xem như một nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quan điểm lý luận liên quan đến lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, giáo dục âm nhạc theo tiếp cận năng lực và du lịch bền vững, thầy Lân chỉ ra những hạn chế trong đào tạo âm nhạc hiện nay, đặc biệt là sự thiếu gắn kết giữa hoạt động giảng dạy, biểu diễn và môi trường thực tiễn.
Thông qua khảo sát thực tiễn và nghiên cứu một số thể loại âm nhạc truyền thống như quan họ, ca trù, xẩm,... Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Bảo Lân đề xuất mô hình tích hợp “giảng dạy - biểu diễn - du lịch” trong đào tạo âm nhạc. Mô hình này nhằm hướng tới phát triển năng lực tổ chức các hoạt động trải nghiệm âm nhạc gắn với di sản cho sinh viên, đồng thời tạo cơ sở để kết nối đào tạo với các hoạt động thực tiễn xã hội và du lịch.
Công nghiệp văn hóa là động lực của du lịch bền vững gắn với chuyển đổi số
Hội thảo cũng thu hút nhiều bài tham luận, nghiên cứu của đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học. Những nghiên cứu này đã phác họa một bức tranh toàn cảnh về các hướng tiếp cận đổi mới, từ khung lý thuyết, chính sách đến các ứng dụng công nghệ mới như thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản...
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Viện - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Khối đào tạo Du lịch (thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam), Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Hạ Long đã có bài tham luận với chủ đề "Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Quảng Ninh: từ chiến lược số hóa đến hệ hình quản trị thích ứng".
Theo thầy Viện, công cuộc bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch tại Quảng Ninh trong giai đoạn mới không còn là một bài toán quản trị hành chính đơn giản, mà là sự thách thức về tư duy thích ứng trước một tương lai bất định. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc duy trì các mô hình quản lý tập quyền và tĩnh tại đã bộc lộ những giới hạn nghiêm trọng, đặc biệt trước các biến cố phi tuyến tính như thiên tai cực đoan hay hiện tượng quá tải du lịch.
Thông qua việc phân tích sâu sắc các thực thể di sản liên tỉnh như Vịnh Hạ Long và Quần thể Yên Tử, nghiên cứu khẳng định ba trụ cột quyết định sự thành bại của chiến lược du lịch bền vững. Thứ nhất là chuyển đổi số phải thoát ly khỏi vai trò “kho lưu trữ” để trở thành một “hệ điều hành di sản" (Heritage OS) dựa trên nền tảng Digital Twin. Điều này cho phép các vòng lặp học tập diễn ra tức thời, biến dữ liệu thành các hành động điều phối sức chứa khoa học.
Thứ hai, bảo tồn di sản sống phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả chủ thể cho cộng đồng. Việc tái thiết các “habitat cư trú sinh thái" chính là giải pháp căn cơ để ngăn chặn sự đứt gãy vốn văn hóa phi vật thể, đảm bảo rằng di sản được nuôi dưỡng bởi chính nhịp thở của người dân bản địa chứ không phải qua những tiểu phẩm sân khấu hóa giả tạo.
Thứ ba, sự phá rào về thể chế thông qua các cơ chế quản trị liên tỉnh là điều kiện tiên quyết để bảo vệ tính toàn vẹn của các đại di sản xuyên biên giới hành chính.
Trong khi đó, Thạc sĩ Lâm Bảo Anh - giảng viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh có bài tham luận với chủ đề "Từ di sản đến hệ sinh thái sáng tạo: công nghiệp văn hóa như động lực của du lịch bền vững và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam".
Nghiên cứu khảo sát các trường hợp như Hội An, Bát Tràng và Festival Huế. Kết quả cho thấy công nghiệp văn hóa không chỉ đóng góp vào nền kinh tế mà còn hỗ trợ bảo tồn bản sắc, mở rộng tiếp cận văn hóa bằng công nghệ số, nâng cao giáo dục xã hội và củng cố sức mạnh mềm.
Tuy vậy, lĩnh vực này gặp rào cản như thể chế phân tán, hạ tầng còn thiếu, nhân lực liên ngành chưa đáp ứng yêu cầu và cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa theo kịp môi trường số. Từ đó, Thạc sĩ Bảo Anh đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, phát triển hệ sinh thái sáng tạo, đẩy mạnh số hóa di sản và tăng cường hợp tác quốc tế để công nghiệp văn hóa trở thành động lực phát triển dài hạn của Việt Nam.
Cũng tại hội thảo, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Phương - giảng viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cũng có bài tham luận với chủ đề "Thích ứng di sản biểu diễn trong phát triển du lịch bền vững: từ bài học kịch múa Khon đến Tuồng xứ Quảng tại Đà Nẵng".
Trong đó, cô Phương phân tích khả năng thích ứng của di sản biểu diễn trong phát triển du lịch bền vững thông qua nghiên cứu trường hợp kịch múa Khon của Thái Lan và đối chiếu với Tuồng xứ Quảng tại Đà Nẵng.
Kết quả cho thấy kịch múa Khon thành công trong việc thích ứng với du lịch nhờ nguyên tắc “giữ lõi, đổi lớp”, tức bảo vệ hạt nhân nghệ thuật trong khi tổ chức trải nghiệm tiếp nhận theo hướng ngắn gọn, trực quan và dễ hiểu hơn. Đối với Tuồng xứ Quảng, nghiên cứu nhận diện nhiều lợi thế về giá trị di sản, mã thị giác và thiết chế biểu diễn, nhưng đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về nhân lực kế cận, diễn giải liên văn hóa, tài chính và liên kết thị trường. Từ đó, cô Phương đề xuất mô hình thích ứng có kiểm soát nhằm góp phần định vị Tuồng như một sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của Đà Nẵng.
Tiến sĩ Ngô Hải Ninh - giảng viên Khoa Du lịch, Trường Đại học Hạ Long có bài nghiên cứu về "Khai thác và bảo vệ di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số".
Dựa trên số liệu đến năm 2025 (19-21 triệu lượt khách/năm), chính sách địa phương và các ứng dụng số như bảo tàng 3D, vé điện tử, QR, VR/AR, GIS, cổng du lịch thông minh, Tiến sĩ Ninh cho rằng tỉnh Quảng Ninh đã bước đầu hình thành hệ thống dữ liệu du khách, thanh toán trực tuyến và bảo tàng ảo, góp phần nâng cao quản lý và trải nghiệm.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại thách thức về quá tải, ô nhiễm và thiếu đồng bộ. Nghiên cứu đề xuất lộ trình: ngắn hạn hoàn thiện e-ticket, GIS, audio guide; trung hạn phát triển giám sát môi trường, VR/AR, dữ liệu lớn; dài hạn xây dựng nền tảng du lịch bền vững tích hợp. Đồng thời, vị giảng viên so sánh các mô hình tiêu biểu và phân tích tác động môi trường - xã hội - kinh tế, từ đó gợi ý chính sách nhằm phát huy di sản, thúc đẩy du lịch xanh, bền vững tại Quảng Ninh.
Sau khi lắng nghe một số tham luận, các đại biểu tham dự đã có chia sẻ, thảo luận sâu thêm.