Đào tạo tiến sĩ toàn thời gian là rất cần thiết vì NCS vừa học vừa làm khó toàn tâm cho nghiên cứu

19/05/2026 06:29
Doãn Nhàn

GDVN -Bộ GD&ĐT đề xuất Chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian gắn với nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.

Theo dự thảo, nghiên cứu sinh tham gia chương trình sẽ được Nhà nước hỗ trợ tài chính trong quá trình đào tạo, đồng thời phải tập trung toàn thời gian cho học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo và hoàn thành chương trình đúng thời gian chuẩn.

Trao đổi với phóng viên, nhiều chuyên gia, nhà khoa học cho rằng đây là chủ trương cần thiết, có thể tạo bước chuyển về chất lượng đào tạo tiến sĩ và năng lực nghiên cứu của các trường đại học Việt Nam nếu được triển khai thực chất, đồng bộ.

“Đáng lẽ nên làm từ sớm”

Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Thành Đô.
Ảnh minh họa: Sinh viên Trường Đại học Thành Đô.

Đánh giá về đề xuất này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Xuân Phương - Trưởng phòng Quản lý chất lượng, Trường Đại học Nha Trang cho rằng chính sách đào tạo tiến sĩ toàn thời gian “đáng lẽ nên có từ sớm”, song “muộn còn hơn không”.

Theo thầy Phương, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, việc ưu tiên đầu tư cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm là hướng đi phù hợp bởi “không thể đầu tư dàn trải”.

Cùng quan điểm, Tiến sĩ Phạm Hiệp - Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường Đại học Thành Đô nhận định việc hỗ trợ đào tạo tiến sĩ toàn thời gian “đáng ra phải triển khai từ khoảng 15 năm trước”, song việc bắt đầu ở thời điểm hiện nay vẫn có ý nghĩa tích cực đối với hệ thống giáo dục đại học.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá đây là một chủ trương “rất đúng và có ý nghĩa chiến lược” trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.

Theo thầy Dũng, để phát triển công nghệ cao, công nghiệp hiện đại hay tiến tới tự chủ khoa học công nghệ, yếu tố cốt lõi vẫn là đội ngũ nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản, chuyên sâu.

“Điểm rất quan trọng của chương trình là đào tạo tiến sĩ gắn trực tiếp với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên của quốc gia. Điều này sẽ giúp hoạt động nghiên cứu đi vào chiều sâu, hướng tới giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước thay vì chỉ dừng ở mục tiêu hoàn thành luận án để lấy học vị”, thầy nhận định.

Nghiên cứu sinh vừa học vừa làm, khó toàn tâm cho nghiên cứu

Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là nhấn mạnh mô hình đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Theo đó, nghiên cứu sinh phải tập trung toàn thời gian cho học tập và nghiên cứu tại cơ sở đào tạo và hoàn thành chương trình đúng thời gian chuẩn (khoảng 3-4 năm tuỳ cơ sở đào tạo).

Theo các chuyên gia, đây là thay đổi quan trọng bởi thực tế hiện nay phần lớn nghiên cứu sinh ở Việt Nam vẫn theo học theo hình thức bán thời gian do áp lực công việc và tài chính.

Phó Giáo sư Đặng Xuân Phương cho biết, phần lớn nghiên cứu sinh trong nước hiện nay vẫn phải tự chi trả học phí, kinh phí thực hành, thí nghiệm và nhiều chi phí khác nên buộc phải duy trì công việc để bảo đảm cuộc sống.

“Ở trường chúng tôi, trung bình nghiên cứu sinh mất khoảng 6 năm rưỡi mới hoàn thành chương trình, thậm chí có người kéo dài 7-8 năm vì vừa học vừa làm, còn phải lo công việc và gia đình”, thầy Phương chia sẻ.

Theo thầy Phương, không thể khẳng định nghiên cứu sinh toàn thời gian chắc chắn có chất lượng cao hơn bán thời gian, song việc dành toàn bộ thời gian cho nghiên cứu sẽ giúp rút ngắn thời gian hoàn thành luận án và nâng chất lượng đào tạo.

Tiến sĩ Phạm Hiệp cũng cho rằng quy định hiện hành vốn đã yêu cầu nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu tập trung tại cơ sở đào tạo, nhưng trên thực tế nhiều người khó đáp ứng vì áp lực kinh tế.

“Nghiên cứu sinh vừa phải tự đóng học phí, vừa phải tự lo chi phí sinh hoạt, trong khi nhiều nơi còn thiếu không gian làm việc, nghiên cứu”, Tiến sĩ Phạm Hiệp nói.

Theo vị chuyên gia, việc miễn học phí và cấp học bổng không phải để “làm giàu” cho nghiên cứu sinh mà là mức hỗ trợ tối thiểu để họ có thể tồn tại và tập trung nghiên cứu, tương tự mô hình đào tạo tiến sĩ ở nhiều quốc gia trên thế giới.

“Chỉ khi nghiên cứu sinh có điều kiện sống cơ bản ổn định thì mới có thể yêu cầu họ làm việc chất lượng và hoàn thành đúng tiến độ”, thầy nhấn mạnh.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng trao đổi chuyên môn cùng học viên sau đại học. Ảnh: NVCC
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng trao đổi chuyên môn cùng học viên sau đại học. Ảnh: NVCC

Ở góc độ đào tạo, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng nghiên cứu khoa học ở bậc tiến sĩ đòi hỏi sự tập trung rất cao và liên tục trong thời gian dài, từ đọc tài liệu, làm thực nghiệm đến phân tích dữ liệu, trao đổi học thuật và công bố khoa học.

“Khi nghiên cứu sinh được hỗ trợ tài chính và có điều kiện tập trung toàn thời gian cho học tập, phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu thì chất lượng luận án chắc chắn sẽ được nâng lên”, thầy Dũng nhận định.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, giá trị lớn hơn nằm ở việc môi trường nghiên cứu liên tục sẽ giúp hình thành tư duy khoa học chuyên nghiệp, khả năng sáng tạo và năng lực giải quyết các bài toán công nghệ thực tế.

“Đào tạo tiến sĩ toàn thời gian là hướng tiếp cận phổ biến của nhiều nền giáo dục tiên tiến, bởi tiến sĩ không chỉ là một văn bằng mà phải thực sự là quá trình đào tạo nhà khoa học”, thầy nhấn mạnh.

Không chỉ hỗ trợ người học, mà còn tạo nền tảng cho nhóm nghiên cứu

Ảnh minh hoạ: VNU
Ảnh minh hoạ: VNU

Các chuyên gia cũng cho rằng để chương trình phát huy hiệu quả, hỗ trợ tài chính mới chỉ là một phần điều kiện cần.

Theo Tiến sĩ Phạm Hiệp, nghiên cứu sinh thực chất là lực lượng triển khai trực tiếp trong các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm của giảng viên, nhà khoa học. Vì vậy, chính sách học bổng và hỗ trợ nghiên cứu sinh cũng đồng thời là hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu của các trường đại học.

“Nếu không có cơ chế học bổng, hỗ trợ phù hợp thì rất khó hình thành các nhóm nghiên cứu đúng nghĩa”, thầy nhận định.

Trong khi đó, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng muốn đào tạo tiến sĩ chất lượng cao cần có đội ngũ giáo sư, nhà khoa học đủ mạnh để dẫn dắt nghiên cứu sinh, cùng với hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ gồm phòng thí nghiệm hiện đại, trang thiết bị nghiên cứu và môi trường học thuật năng động.

“Một nghiên cứu sinh giỏi rất cần người hướng dẫn có năng lực chuyên môn, định hướng nghiên cứu rõ ràng và khả năng kết nối học thuật quốc tế”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và hệ sinh thái nghiên cứu cũng đóng vai trò then chốt. “Muốn đào tạo tiến sĩ chất lượng cao thì phải có phòng thí nghiệm hiện đại, trang thiết bị nghiên cứu đồng bộ và môi trường học thuật thật sự năng động. Nếu thiếu điều kiện nghiên cứu thì rất khó tạo ra các công trình có giá trị”, thầy chia sẻ.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, nghiên cứu cần được gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và các bài toán phát triển của đất nước để nâng cao giá trị ứng dụng.

Phó Giáo sư Đặng Xuân Phương cho rằng ngoài công bố quốc tế, nghiên cứu sinh, nhất là ở các lĩnh vực kỹ thuật, cần hướng tới các sáng chế, giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất thay vì để luận án “cất trong ngăn kéo”.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng đào tạo tiến sĩ phải hướng đến chuẩn mực quốc tế, đặt chất lượng học thuật lên hàng đầu, tránh hình thức và chạy theo số lượng.

Kỳ vọng tạo cú hích cho đại học nghiên cứu

Kỳ vọng về tác động của chương trình trong những năm tới, các chuyên gia cho rằng nếu được triển khai bài bản và đồng bộ, đây có thể trở thành cú hích quan trọng đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, chương trình có thể góp phần hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, thúc đẩy công bố khoa học quốc tế và chuyển giao công nghệ, từ đó từng bước nâng vị thế khoa học của Việt Nam trên trường quốc tế.

“Giá trị lớn nhất của chương trình không nằm ở số lượng tiến sĩ được đào tạo, mà ở việc tạo ra sự chuyển biến về tư duy: đào tạo tiến sĩ không phải để có thêm học vị, mà để tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và đóng góp trực tiếp cho sự phát triển bền vững của đất nước”, thầy nhấn mạnh.

Trong khi đó, Phó Giáo sư Đặng Xuân Phương cho rằng điều quan trọng là chính sách phải đi vào thực tế, đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính và giải ngân cần thuận tiện để hỗ trợ nghiên cứu sinh kịp thời. “Nghiên cứu sinh đã cam kết tham gia chương trình thì cũng phải có trách nhiệm thực hiện đúng cam kết”, thầy nói.

Theo các chuyên gia, nếu giải quyết được bài toán tài chính, môi trường nghiên cứu và chất lượng đào tạo, chương trình đào tạo tiến sĩ toàn thời gian không chỉ giúp rút ngắn thời gian đào tạo mà còn tạo nền tảng để đại học Việt Nam chuyển dần từ mô hình thiên về giảng dạy sang mô hình đại học nghiên cứu.

Doãn Nhàn