Giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ

20/05/2026 10:14
Thi Thi

GDVN - Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập.

Nghị định số 159/2026/NĐ-CP quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các trường cao đẳng và cơ sở giáo dục đại học công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục), bao gồm: tiêu chuẩn, sử dụng, quản lý và chế độ, chính sách đối với giảng viên đồng cơ hữu.

Nghị định này áp dụng đối với: Giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục; Cơ sở giáo dục nơi viên chức thực hiện nhiệm vụ giảng viên đồng cơ hữu; đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập trực tiếp quản lý viên chức là giảng viên đồng cơ hữu và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Tiêu chuẩn đối với giảng viên đồng cơ hữu

Theo Nghị định, tiêu chuẩn đối với giảng viên đồng cơ hữu được quy định bao gồm:

Giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ.

Giảng viên đồng cơ hữu trong trường cao đẳng công lập phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau đây:

Có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với ngành, nghề giảng dạy và có ít nhất 03 năm (36 tháng) kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời chủ trì hoặc tham gia công trình nghiên cứu khoa học, đề tài được cấp có thẩm quyền nghiệm thu theo quy định hoặc sáng kiến được cấp có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn;

Có bằng chuyên khoa cấp I trở lên, bằng bác sĩ nội trú, bằng bác sĩ chuyên khoa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và đang công tác tại cơ sở y tế dự phòng công lập hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập được xếp cấp chuyên môn kỹ thuật là cấp cơ bản, cấp chuyên sâu đối với lĩnh vực sức khỏe;

Có danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú, Huấn luyện viên cấp quốc gia hoặc đạt giải thưởng cấp quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao hoặc lĩnh vực đặc thù khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

Đạt giải thưởng hoặc chứng nhận tại các kỳ thi, cuộc thi kỹ năng nghề quốc gia trở lên hoặc chứng nhận huấn luyện học sinh, sinh viên đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp do tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 trở lên theo quy định của pháp luật về kỹ năng nghề;

Có sản phẩm sáng tạo nghệ thuật, sáng kiến kỹ thuật, mô hình thực hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

imager1989700-16850064207311454081042.jpg
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Đánh giá đối với giảng viên đồng cơ hữu

Nguyên tắc thực hiện đánh giá được nêu rõ: Việc đánh giá phải bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan; Nội dung đánh giá được thực hiện trong phạm vi các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ chuyên môn mà giảng viên đồng cơ hữu thực hiện tại cơ sở giáo dục quy định tại khoản 3 Điều này; phải được định lượng trên cơ sở các tiêu chí gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của giảng viên đồng cơ hữu;

Gắn kết quả đánh giá với việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng và chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật và quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục.

Người đứng đầu cơ sở giáo dục hoặc người đứng đầu đơn vị thuộc, trực thuộc cơ sở giáo dục được phân cấp theo thẩm quyền thực hiện đánh giá giảng viên đồng cơ hữu thuộc phạm vi quản lý theo quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục.

Nội dung đánh giá được thực hiện trên cơ sở kết quả đầu ra, có minh chứng kiểm tra; bảo đảm khách quan, định lượng và phản ánh đúng mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cụ thể:

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ chuyên môn khác của giảng viên đồng cơ hữu;

Thái độ giảng dạy và trách nhiệm nghề nghiệp; chất lượng giảng dạy; chất lượng nghiên cứu khoa học;

Đóng góp cho cơ sở giáo dục và cộng đồng học thuật; đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ; Nội dung khác theo yêu cầu của hợp đồng lao động.

Việc đánh giá đối với giảng viên đồng cơ hữu không thay thế kết quả đánh giá viên chức tại đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác, nhưng được sử dụng làm căn cứ bắt buộc khi thực hiện đánh giá, xếp loại viên chức hằng năm. Kết quả đánh giá được cơ sở giáo dục gửi đến đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác theo quy định tại khoản 8 Điều 12 Nghị định này.

Chế độ làm việc của giảng viên đồng cơ hữu

Nghị định cũng quy định rõ chế độ làm việc của giảng viên đồng cơ hữu. Theo đó, thời gian làm việc của giảng viên đồng cơ hữu trong một năm học được thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng lao động nhưng phải đảm bảo tối thiểu 25% thời gian làm việc và không quá 50% thời gian làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về chế độ làm việc của giảng viên cơ hữu.

Người đứng đầu cơ sở giáo dục căn cứ mục tiêu, chiến lược phát triển của đơn vị; đặc thù của ngành, nghề đào tạo, điều kiện cụ thể của đơn vị và điều kiện làm việc của giảng viên đồng cơ hữu để quyết định định mức giảng dạy trực tiếp trên lớp (hoặc giảng dạy trực tuyến) tương ứng với thời gian làm việc của giảng viên đồng cơ hữu trong một năm học; giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên đồng cơ hữu bảo đảm phù hợp với chuyên môn, năng lực của giảng viên đồng cơ hữu và điều kiện thực hiện.

Giảng viên đồng cơ hữu dạy vượt định mức giảng dạy theo thỏa thuận trong hợp đồng thì được trả tiền lương dạy thêm giờ theo quy định về tiền lương làm thêm giờ của pháp luật về lao động.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Xem chi tiết Nghị định số 159/2026/NĐ-CP quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập TẠI ĐÂY.

Thi Thi