Là giáo viên hạng III, tôi làm cả nhiệm vụ hạng II nhưng nhiều năm vẫn chưa được thăng hạng

23/05/2026 07:19
Ánh Dương

GDVN - Là giáo viên trung học phổ thông hạng III nhưng nhiều năm qua tôi đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ của giáo viên hạng II, trong khi cơ hội được xét thăng hạng vẫn còn xa vời.

Tôi hiện là tổ trưởng chuyên môn. Tôi nhiều lần được tặng bằng khen cấp tỉnh và đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Từ năm 2021 đến nay, địa phương nơi tôi công tác đã có một số lần rà soát hồ sơ thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên. Mỗi lần như vậy, tôi và các đồng nghiệp lại chuẩn bị minh chứng, bổ sung giấy tờ, chờ đợi, nhưng sau đó mọi việc lại lặng xuống và cơ quan quản lí giáo dục cũng không một lời giải thích.

Với tôi, điều đáng nói không phải là một cá nhân chưa được thăng hạng. Vấn đề nằm ở chỗ một giáo viên đang làm công việc ở hạng II, có thành tích được ghi nhận, nhưng vẫn chưa có cơ hội được xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp.

gdvn-thanghang.png
Ảnh minh hoạ.

Theo Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, giáo viên trung học phổ thông hạng III làm các nhiệm vụ giảng dạy, kiểm tra đánh giá, tư vấn học sinh, tham gia hoạt động chuyên môn, tự học, tự bồi dưỡng, ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện các nhiệm vụ do hiệu trưởng phân công.

Những nhiệm vụ ấy tôi vẫn thực hiện đầy đủ, là công việc thường xuyên của một giáo viên đứng lớp. Nhưng ở vị trí tổ trưởng chuyên môn, công việc của tôi không dừng ở nhiệm vụ hạng III.

Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT quy định giáo viên hạng II phải “Điều chỉnh được kế hoạch dạy học và giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương”.

Đây là công việc tôi cùng tổ chuyên môn thực hiện trong từng năm học, khi phải cân đối giữa chương trình, điều kiện nhà trường và trình độ học sinh.

Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT cũng yêu cầu giáo viên hạng II “Vận dụng linh hoạt và hiệu quả các phương pháp dạy học, giáo dục; các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập vì sự tiến bộ của học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”.

Với tổ trưởng chuyên môn, yêu cầu này không chỉ nằm trong tiết dạy cá nhân mà còn thể hiện qua việc góp ý bài dạy, xây dựng đề kiểm tra, tổ chức sinh hoạt chuyên môn và hỗ trợ đồng nghiệp đổi mới phương pháp.

Trong vai trò tổ trưởng chuyên môn, tôi từng dạy minh họa ở các lớp bồi dưỡng giáo viên, chủ trì nhiều chuyên đề chuyên môn và tham gia hướng dẫn học sinh thực hiện hàng chục sản phẩm nghiên cứu khoa học đoạt giải cấp tỉnh.

Tôi cũng được phân công tham gia đánh giá ngoài, làm ban giám khảo hội thi, kỳ thi giáo viên dạy giỏi và thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công. Những việc ấy không phải là phần việc phát sinh ngẫu nhiên. Đó là các nhiệm vụ đòi hỏi chuyên môn, kinh nghiệm và sự tin cậy của lãnh đạo nhà trường.

Đặc biệt, Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT quy định giáo viên hạng II phải “Thiết kế được các nội dung bồi dưỡng và sinh hoạt chuyên môn hay chuyên đề theo yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá”. Đây chính là công việc tôi đã làm nhiều năm trong vai trò tổ trưởng chuyên môn.

Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT còn nêu giáo viên hạng II có nhiệm vụ “Có năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với môn học…”.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, điều khiến tôi băn khoăn là chức danh nghề nghiệp chưa phản ánh đúng công việc thực tế. Tôi vẫn là giáo viên hạng III trên hồ sơ, nhưng nhiều nhiệm vụ đang đảm nhận lại thuộc yêu cầu của giáo viên hạng II.

Nghịch lý ấy càng rõ hơn khi nhìn vào các rào cản của việc xét thăng hạng. Một trong những điểm nghẽn lớn là cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp. Khi số lượng giáo viên trung học phổ thông hạng II bị khống chế không quá 50% (Công văn 64/BNV-CCVC), cơ hội thăng hạng không chỉ phụ thuộc vào năng lực, thành tích và minh chứng của từng giáo viên mà còn phụ thuộc vào cơ cấu, chỉ tiêu và cách triển khai ở từng địa phương.

Vì vậy, có thể xảy ra tình trạng giáo viên làm nhiệm vụ ở mức hạng II, được giao trách nhiệm ở mức hạng II, có thành tích ở mức hạng II, nhưng vẫn phải chờ vì vướng cơ cấu chỉ tiêu.

Một rào cản khác là hành lang pháp lý liên tục thay đổi. Từ năm 2021 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản liên quan đến mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và xét thăng hạng giáo viên.

Ngày 2/2/2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 01-04/2021/TT-BGDĐT về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập.

Đến tháng 4/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01-04/2021/TT-BGDĐT.

Riêng quy định về tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng cũng thay đổi. Thông tư 13/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/12/2024, quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập và giáo viên dự bị đại học; đồng thời thay thế Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT.

Nhìn từ cơ sở, mỗi lần văn bản thay đổi là một lần địa phương phải cập nhật cách làm, còn giáo viên phải chờ thêm. Hồ sơ đã rà soát có thể phải đối chiếu lại, quy trình chưa kịp triển khai đã phải điều chỉnh theo quy định mới.

Sự thay đổi chính sách có thể xuất phát từ yêu cầu quản lý, nhưng khi quá trình xét thăng hạng bị kéo dài nhiều năm, giáo viên là người chịu tác động trực tiếp.

Dẫu biết rằng, giáo viên muốn được thăng hạng phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện, hồ sơ, minh chứng và quy trình theo quy định. Nhưng khi giáo viên đã có quá trình công tác lâu dài, đã được giao nhiệm vụ ở mức cao hơn, đã có thành tích được ghi nhận, thì việc chậm xét thăng hạng quá lâu sẽ làm giảm ý nghĩa của cơ chế đánh giá nghề nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Lao-dong-Tien-luong/Thong-tu-30-2026-TT-BGDDT-chuan-nghe-nghiep-giao-vien-co-so-giao-duc-pho-thong-701993.aspx

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Ánh Dương