ĐHQG TP.HCM hỗ trợ tối đa 560 triệu/nghiên cứu sinh: Trường đại học thành viên đặt nhiều kỳ vọng

29/05/2026 06:26
Mạnh Dũng

GDVN - Theo đại diện một số trường ĐH thành viên của ĐH Quốc gia TP.HCM, đây là một chính sách đột phá, tạo điều kiện để học viên và nghiên cứu sinh yên tâm tập trung cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học.

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 503 phê duyệt “Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030”.

Trong đó, mức hỗ trợ tối đa cho nghiên cứu sinh lên đến 560 triệu đồng/người; đối với học viên cao học là 160 triệu đồng/người theo thời gian chuẩn của chương trình đào tạo tương ứng.

Theo đại diện một số đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, chính sách này là bước đi đột phá trong đào tạo sau đại học, góp phần nâng cao chất lượng đầu vào và hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh.

Phù hợp với định hướng xây dựng đại học nghiên cứu, góp phần hình thành nhóm nghiên cứu mạnh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Trí - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 là một chính sách hỗ trợ rất có ý nghĩa và mang tính đột phá đối với đào tạo sau đại học hiện nay. Việc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh triển khai chương trình hỗ trợ lên đến 560 triệu đồng đối với nghiên cứu sinh và 160 triệu đồng đối với học viên cao học cho thấy sự đầu tư mạnh mẽ cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Trên hết, chương trình không chỉ hỗ trợ về tài chính mà còn đầu tư để tạo ra một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Thông qua môi trường này, người học được tham gia trực tiếp vào các nhóm nghiên cứu mạnh, các nhiệm vụ khoa học công nghệ và các hoạt động đổi mới sáng tạo theo chuẩn quốc tế.

Đối với Trường Đại học An Giang, chính sách này sẽ tạo sức hút rất lớn với những sinh viên giỏi, những người trẻ có năng lực nghiên cứu và mong muốn phát triển con đường học thuật. Khi người học nhìn thấy cơ hội được hỗ trợ tốt, được nghiên cứu trong môi trường học thuật chuyên sâu và có khả năng tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị thực tiễn, họ sẽ mạnh dạn lựa chọn học tiếp ở bậc sau đại học thay vì chỉ tập trung vào thị trường lao động ngắn hạn.

Bên cạnh đó, nó cũng góp phần nâng cao chất lượng đầu vào cho các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ của nhà trường. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để Trường Đại học An Giang tiếp tục phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong những lĩnh vực có thế mạnh như nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, môi trường, thủy sản, giáo dục và chuyển đổi số phục vụ phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đặc biệt, mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo sẽ giúp người học không chỉ tiếp cận kiến thức chuyên môn mà còn được rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn, phát triển sản phẩm nghiên cứu có khả năng chuyển giao và ứng dụng trong thực tế. Đây là xu hướng đào tạo sau đại học hiện đại mà nhiều đại học nghiên cứu trên thế giới đang triển khai.

thay-ng-huu-tri.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Trí - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website trường.

Cùng chia sẻ về chính sách này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, đây là một chủ trương có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện quyết tâm của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong việc cụ thể hóa các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Mức hỗ trợ dành cho nghiên cứu sinh và học viên cao học trong chương trình không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính, mà còn thể hiện quan điểm đầu tư cho con người, đầu tư cho tri thức và đầu tư cho tương lai phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học dữ liệu, an toàn thông tin hay chuyển đổi số, chính sách này sẽ tạo động lực mạnh mẽ để thu hút người học giỏi, người trẻ có khát vọng nghiên cứu, cống hiến và đổi mới sáng tạo tham gia vào các chương trình đào tạo sau đại học.

Giá trị cốt lõi của chương trình nằm ở việc chuyển mạnh mô hình đào tạo sau đại học từ hướng truyền thống sang mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và giải quyết các bài toán thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp.

Người học không chỉ học để nhận bằng cấp mà còn được tham gia trực tiếp vào các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhiệm vụ khoa học công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của nhà trường. Đây là môi trường rất quan trọng để hình thành tư duy nghiên cứu độc lập, năng lực sáng tạo, khả năng công bố quốc tế cũng như tinh thần phụng sự cộng đồng thông qua khoa học công nghệ.

Mặt khác, chương trình sẽ góp phần nâng cao chất lượng luận văn, luận án; gia tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế; thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh; tăng cường hợp tác quốc tế, kết nối doanh nghiệp và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong nhà trường.

Quan trọng hơn, chương trình phù hợp với định hướng xây dựng đại học nghiên cứu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt cho phát triển đất nước theo tinh thần các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Chính phủ trong giai đoạn hiện nay.

image-2.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Phương, Trưởng phòng, Phòng đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá, đây là một chính sách hỗ trợ mang tính đột phá, tạo điều kiện để học viên và nghiên cứu sinh yên tâm tập trung cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học. Hơn nữa, chính sách này góp phần hiện thực hóa định hướng đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, từ đó hướng đến việc giải quyết các bài toán lớn của thực tiễn và đóng góp cho các chiến lược phát triển trọng điểm của quốc gia.

Sự hỗ trợ này sẽ tạo sức hút đáng kể đối với những người học có năng lực, đặc biệt là các ứng viên có khả năng theo học toàn thời gian và theo đuổi con đường nghiên cứu chuyên sâu. Đây cũng là nền tảng quan trọng để nhà trường nâng cao năng lực cạnh tranh trong đào tạo sau đại học chất lượng cao, từng bước hình thành đội ngũ nhân lực nghiên cứu phục vụ các lĩnh vực công nghệ chiến lược của quốc gia.

Khi được bảo đảm tốt hơn về điều kiện tài chính, người học có thể tập trung toàn tâm toàn ý cho việc học tập, nghiên cứu và phát triển chuyên môn thay vì phải phân tán thời gian cho các áp lực khác. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn góp phần cải thiện chất lượng đào tạo sau đại học, tạo ra các công trình và sản phẩm nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao hơn.

co-phuong.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Phương, Trưởng phòng, Phòng đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh website nhà trường

Cần mở rộng thêm các cơ hội học tập, trao đổi và tham gia nghiên cứu ở nước ngoài

Song song với Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 đã được ban hành, bài toán triển khai hiệu quả trong thực tế chính là nội dung trọng tâm được đại diện các trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh quan tâm.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Phương, để chính sách này được triển khai hiệu quả, trước hết cần chú trọng xây dựng dự án nghiên cứu có chất lượng. Các nhóm nghiên cứu cần xác định rõ hướng nghiên cứu trọng tâm, bám sát các chiến lược phát triển khoa học công nghệ của quốc gia cũng như những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Từ đó, hình thành các nghiên cứu mang tính đột phá và tạo ra giá trị thực sự cho xã hội.

Bên cạnh đó, các hướng nghiên cứu cần có sự kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các đơn vị ứng dụng thực tiễn nhằm xác định đúng “bài toán” cần giải quyết. Khi nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, khả năng ứng dụng và tác động xã hội của kết quả nghiên cứu sẽ cao hơn.

Song song với đó, cần đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu để người học có điều kiện triển khai các đề tài quy mô lớn.

Ngoài ra, cô Phương cũng nhấn mạnh, hiện nay, mức hỗ trợ chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu cơ bản về sinh hoạt và học tập. Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt tại đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh ngày càng cao, cần có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh để người học có thể toàn tâm toàn ý theo đuổi con đường nghiên cứu chuyên sâu.

Bên cạnh hỗ trợ tài chính, cần mở rộng thêm các cơ hội học tập, trao đổi và tham gia nghiên cứu ở nước ngoài trong quá trình đào tạo. Việc tiếp cận với các môi trường nghiên cứu tiên tiến sẽ giúp học viên và nghiên cứu sinh cập nhật xu hướng công nghệ mới, mở rộng tư duy học thuật và nâng cao năng lực nghiên cứu.

hoi-nghi-nghien-cuu-sinh-vien.jpg
Ảnh minh họa: Website Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Còn theo thầy Nguyễn Hữu Trí, để chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phát huy hiệu quả sâu rộng hơn, đặc biệt trong thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính dài hạn.

Trước hết, cần gắn chặt hoạt động đào tạo sau đại học với các nhiệm vụ khoa học công nghệ và nhu cầu thực tiễn của địa phương, doanh nghiệp và xã hội. Người học sau đại học không nên chỉ thực hiện các đề tài mang tính học thuật đơn thuần mà cần tham gia giải quyết những vấn đề thực tế như chuyển đổi số, nông nghiệp thông minh, môi trường, biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xanh hay đổi mới giáo dục. Bởi, khi nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn thì khả năng ứng dụng và chuyển giao sẽ cao hơn rất nhiều.

Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ mạnh hơn cho các nhóm nghiên cứu liên ngành và các dự án có khả năng thương mại hóa sản phẩm. Hiện nay, đổi mới sáng tạo thường không nằm trong phạm vi một ngành riêng lẻ mà đòi hỏi sự kết hợp giữa công nghệ, quản lý, dữ liệu và nhu cầu thị trường. Vì vậy, việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo hướng liên ngành sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng tạo ra sản phẩm khoa học công nghệ có giá trị.

Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối giữa nhà trường – doanh nghiệp – địa phương trong toàn bộ quá trình đào tạo và nghiên cứu. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận sản phẩm nghiên cứu mà cần tham gia ngay từ khâu đặt hàng bài toán, đồng hành nghiên cứu, hỗ trợ thiết bị, dữ liệu và đánh giá hiệu quả ứng dụng. Đây là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong đại học.

Ngoài hỗ trợ tài chính cho người học, cũng cần có chính sách khuyến khích giảng viên, nhà khoa học và nhóm nghiên cứu thông qua các cơ chế như hỗ trợ công bố quốc tế, đăng ký sở hữu trí tuệ, phát triển startup công nghệ, chuyển giao sản phẩm nghiên cứu hoặc kết nối quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo. Khi đội ngũ giảng viên có động lực nghiên cứu mạnh thì người học cũng sẽ được truyền cảm hứng và phát triển tốt hơn.

Riêng đối với Trường Đại học An Giang, nhà trường mong muốn trong thời gian tới sẽ có thêm các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng gắn với đặc thù vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, môi trường, thủy sản, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là những lĩnh vực mà hoạt động nghiên cứu sau đại học có thể tạo ra tác động trực tiếp đối với sự phát triển bền vững của khu vực và cộng đồng.

Đchương trình tạo được tác động sâu rộng hơn đối với hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang khẳng định, chương trình cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng gắn chặt hơn giữa đào tạo sau đại học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Một số định hướng cần quan tâm thầy Khang đưa ra gồm: Tăng cường cơ chế phối hợp giữa nhà trường, doanh nghiệp và các quỹ khoa học công nghệ; Ưu tiên các đề tài nghiên cứu có khả năng ứng dụng, thương mại hóa và tạo ra giá trị thực tiễn; Có cơ chế hỗ trợ mạnh hơn cho đăng ký sở hữu trí tuệ, phát triển sản phẩm công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Mở rộng các chương trình nghiên cứu liên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ số và an ninh mạng; Tăng cường chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả đào tạo sau đại học không chỉ dựa trên số lượng văn bằng hay công bố khoa học, mà còn dựa trên mức độ đóng góp cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thầy Khang cũng kỳ vọng, với định hướng đúng đắn và sự đầu tư đồng bộ, chương trình sẽ góp phần quan trọng vào việc đào tạo đội ngũ trí thức trẻ, nhà khoa học trẻ có bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn cao, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm phụng sự đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Mạnh Dũng