Ghi tên tác giả trong công bố khoa học: "Tác giả danh nghĩa" khó hay dễ nhận diện?

Ghi tên tác giả trong công bố khoa học: "Tác giả danh nghĩa" khó hay dễ nhận diện?

02/06/2026 06:22
Doãn Nhàn

GDVN -Theo chuyên gia, các vi phạm liên quan đến quyền tác giả, thứ tự tác giả hay tình trạng “tác giả danh nghĩa” thường xuất hiện ở một “vùng xám” khá nhạy cảm của hoạt động nghiên cứu.

lckh.png
14.png

Theo hướng dẫn mới, hành vi “ghi tên tác giả không đúng thực tế hoặc loại bỏ tác giả có đóng góp thực sự” được xác định là vi phạm liêm chính khoa học.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm trong môi trường nghiên cứu hiện nay.

z7501242770515-7926bd63af34457a8c8b5565773a1eb7.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng nhận định nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ nhiều yếu tố như áp lực công bố khoa học, cơ chế đánh giá còn nặng về số lượng bài báo, các mối quan hệ quyền lực trong môi trường học thuật...

“Việc ghi nhận không đúng đóng góp tác giả không chỉ gây bất công đối với những người trực tiếp thực hiện nghiên cứu mà còn ảnh hưởng đến tính minh bạch và uy tín của hoạt động khoa học”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng, việc xác định ai là tác giả thực sự của một công trình khoa học không phải lúc nào cũng đơn giản. Trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa các mức độ đóng góp chưa thật sự rõ ràng. Đặc biệt với các nhóm nghiên cứu lớn, nhiều thành viên tham gia ở những công đoạn khác nhau của quá trình nghiên cứu khiến việc xác định vai trò và mức độ đóng góp của từng người trở nên phức tạp hơn.

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Hải - giảng viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Hải - giảng viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Hải - giảng viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng cho rằng các vi phạm liên quan đến quyền tác giả, thứ tự tác giả hay tình trạng “tác giả danh nghĩa” thường xuất hiện ở một “vùng xám” khá nhạy cảm của hoạt động nghiên cứu.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải, đây không chỉ là câu chuyện chuyên môn mà còn liên quan đến quan hệ thầy trò, quan hệ cấp trên cấp dưới, áp lực KPI, xét thi đua, xét chức danh, xét đề tài và cả cơ hội nghề nghiệp.

“Trong nhiều nhóm nghiên cứu, câu chuyện ai là tác giả, ai đứng tên đầu, ai là tác giả liên hệ, ai chỉ được ghi nhận ở phần cảm ơn đôi khi chưa được trao đổi minh bạch từ đầu. Khi mọi thứ chỉ dựa vào thỏa thuận miệng hoặc “thông lệ trong nhóm nghiên cứu”, rất dễ phát sinh hiểu nhầm, thậm chí bất công. Có người đóng góp thực chất nhưng bị đẩy xuống rất xa hoặc bị loại khỏi danh sách tác giả, vì “cậu còn trẻ, sự nghiệp còn dài”. Ngược lại, cũng có người được đưa tên vào bài báo vì vị trí quản lý, quan hệ chuyên môn hoặc để “đẹp đội hình”, dù đóng góp học thuật không tương xứng”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải chia sẻ.

63e7f449-24e6-42f0-abb6-265fb32987d2.png
Ảnh minh hoạ: DN

Để hạn chế tình trạng này, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải cho rằng cần chuyển từ văn hóa “ngầm hiểu” sang văn hóa “ghi rõ”. Ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu, các thành viên trong nhóm cần thống nhất rõ nguyên tắc về quyền tác giả, vai trò và trách nhiệm của từng người trong từng công đoạn như hình thành ý tưởng, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích kết quả, viết bản thảo hay chịu trách nhiệm cuối cùng đối với công bố.

Bên cạnh đó, vị giảng viên đề xuất các cơ sở nghiên cứu đẩy mạnh áp dụng cơ chế kê khai đóng góp tác giả theo thông lệ quốc tế. Hiện nay, nhiều tạp chí khoa học uy tín đã yêu cầu tác giả khai báo cụ thể vai trò của từng thành viên trong nghiên cứu ngay khi nộp bài.

“Tôi cho rằng đây nên trở thành một thực hành phổ biến không chỉ đối với các bài báo quốc tế mà cả trong báo cáo đề tài, nghiệm thu và các công bố khoa học trong nước”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải bày tỏ.

Theo vị chuyên gia, chỉ những người có đóng góp học thuật thực chất mới nên được ghi nhận tư cách tác giả. Các hỗ trợ về hành chính, tài chính, kết nối hoặc tạo điều kiện triển khai nghiên cứu có thể được ghi nhận ở phần cảm ơn, nhưng không nên mặc nhiên trở thành căn cứ để đứng tên tác giả nếu không có đóng góp học thuật tương ứng.

“Minh bạch quyền tác giả không phải để làm khó nhau mà để bảo vệ tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu. Khi người có đóng góp được ghi nhận đúng và người đứng tên tác giả hiểu rõ trách nhiệm của mình, công bố khoa học sẽ phản ánh đúng giá trị lao động học thuật thay vì trở thành sản phẩm của các mối quan hệ xã hội”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải nhấn mạnh.

Tương tự, Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng cũng cho rằng các cơ sở nghiên cứu cần tham khảo và áp dụng những chuẩn mực quốc tế đã được cộng đồng khoa học thừa nhận rộng rãi. Trong đó, bộ tiêu chí của Ủy ban Quốc tế các Biên tập viên Tạp chí Y học (ICMJE) hiện là một trong những căn cứ phổ biến để xác định tư cách tác giả; đồng thời hệ thống phân loại vai trò đóng góp CRediT cũng là công cụ hữu ích giúp làm rõ trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm nghiên cứu.

Theo thầy Dũng, các nhóm nghiên cứu nên thống nhất về quyền tác giả ngay từ khi bắt đầu triển khai đề tài, đồng thời lưu giữ đầy đủ hồ sơ, nhật ký nghiên cứu và các minh chứng liên quan đến quá trình tham gia của từng thành viên.

Ảnh minh hoạ: Đại học Phenikaa
Ảnh minh hoạ: Đại học Phenikaa

AI trong nghiên cứu khoa học: Cần minh bạch về công cụ, phạm vi và trách nhiệm

Một nội dung nhận được nhiều sự quan tâm trong Hướng dẫn là quy định về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh AI đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong học thuật, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Hải cho rằng vấn đề không nằm ở việc có sử dụng AI hay không, mà ở cách sử dụng và mức độ minh bạch.

Theo vị chuyên gia, AI có thể hỗ trợ hiệu quả trong nhiều công đoạn như tìm kiếm tài liệu, tóm tắt thông tin, rà soát ngôn ngữ, hỗ trợ phân tích dữ liệu hoặc xây dựng bản thảo. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cần công khai rõ AI được sử dụng ở khâu nào và cho mục đích gì.

“AI có thể là trợ lý nghiên cứu, nhưng không thể là tác giả chịu trách nhiệm khoa học. Người ký tên trên công trình vẫn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về tính chính xác, trung thực của kết quả nghiên cứu”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia, để bảo đảm liêm chính khoa học, nhà nghiên cứu cần minh bạch về công cụ AI sử dụng, phạm vi ứng dụng cũng như trách nhiệm kiểm chứng toàn bộ nội dung trước khi công bố. Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải cũng lưu ý AI không được sử dụng để tạo dữ liệu giả, bịa đặt tài liệu tham khảo hoặc thay thế trách nhiệm học thuật của con người.

“Điều đáng lo không phải là sử dụng AI, mà là sử dụng AI nhưng không hiểu, không kiểm chứng và không khai báo”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải nói.

15.png

Quyết định số 2557/QĐ-BKHCN là lần đầu tiên Việt Nam ban hành một khung hướng dẫn toàn diện về liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp trong nghiên cứu.

Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng cho rằng, đây là văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với môi trường nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.

Theo thầy, lần đầu tiên một tài liệu ở cấp Bộ đề cập tương đối toàn diện đến những vấn đề cốt lõi của liêm chính khoa học mà cộng đồng học thuật quan tâm, từ đạo văn, ngụy tạo và giả mạo dữ liệu đến ghi tên tác giả không đúng thực tế, xung đột lợi ích, sở hữu trí tuệ, hoạt động phản biện khoa học hay việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong nghiên cứu.

“Hướng dẫn không chỉ xác định các hành vi vi phạm mà còn đưa ra những biện pháp phòng ngừa cụ thể như tập huấn định kỳ, lưu trữ dữ liệu gốc, rà soát đạo văn, kê khai việc sử dụng AI, đồng thời quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan từ cá nhân nghiên cứu viên đến tổ chức chủ trì và cơ quan tài trợ”, Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng nhận định.

Theo vị chuyên gia, trong bối cảnh số lượng công bố quốc tế của Việt Nam gia tăng nhanh trong những năm gần đây, việc hình thành một khung chuẩn mực rõ ràng về liêm chính khoa học có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng và uy tín của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.

Cùng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải đánh giá cao cách tiếp cận của Hướng dẫn khi không chỉ dừng lại ở việc khuyến nghị các nhà nghiên cứu hành xử trung thực mà đã đặt vấn đề liêm chính khoa học trong một khuôn khổ quản trị cụ thể.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải, điểm đáng chú ý của Hướng dẫn là việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong hệ sinh thái nghiên cứu, bao gồm cơ quan tài trợ, tổ chức chủ trì, người đứng đầu đơn vị, hội đồng phản biện và bộ phận quản lý khoa học, thay vì chỉ đặt trách nhiệm lên cá nhân nhà nghiên cứu.

“Liêm chính khoa học không thể chỉ dựa vào phẩm chất cá nhân, mà cần được bảo vệ bằng quy trình. Văn bản đã tạo ra một “ngôn ngữ chung” để các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan tài trợ và nhà nghiên cứu cùng nhìn nhận vấn đề. Khi đã có ngôn ngữ chung, chúng ta mới có thể đi tiếp đến văn hóa chung: văn hóa nghiên cứu trung thực, minh bạch và có trách nhiệm”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải chia sẻ.

Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: Doãn Nhàn
Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: Doãn Nhàn

Đồng tình với nhận định trên, Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cũng cho rằng, việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành hướng dẫn mới là bước tiến đáng ghi nhận trong quá trình thể chế hóa các nguyên tắc liêm chính khoa học tại Việt Nam.

Theo ông, trong nhiều năm qua, các vấn đề như đạo văn, sao chép, mua bán bài báo khoa học, ghi tên tác giả không đúng thực tế hay các hành vi gian lận nghiên cứu đã được thảo luận ngày càng nhiều trong cộng đồng học thuật. Tuy nhiên, việc bảo đảm liêm chính khoa học chủ yếu vẫn dựa vào các chuẩn mực nghề nghiệp và ý thức tự giác của từng cá nhân, trong khi thiếu quy định cụ thể và cơ chế thực thi đủ mạnh.

“Có thể xem đây là một cột mốc quan trọng trong quá trình thúc đẩy và thể chế hóa liêm chính khoa học tại Việt Nam. Những nguyên tắc cốt lõi về tính trung thực, minh bạch và trách nhiệm trong nghiên cứu đã được xác định rõ ràng hơn thay vì chỉ tồn tại dưới dạng chuẩn mực nghề nghiệp chung”, Tiến sĩ Lê Đông Phương nhận định.

Tuy nhiên, theo ông, thách thức lớn nhất không nằm ở việc ban hành quy định mà ở khả năng thực thi trong thực tế.

“Chúng ta đều hiểu rằng trong thực tế còn tồn tại nhiều mối quan hệ xã hội, các ràng buộc về tập quán, quy ước hay quan hệ cá nhân. Những yếu tố này đôi khi có thể ảnh hưởng đến việc phát hiện và xử lý vi phạm. Vì vậy, mức độ sẵn sàng để thực hiện nghiêm các quy định mới đến đâu vẫn là câu hỏi cần thời gian để trả lời”, ông phân tích.

Dù vậy, vị chuyên gia cho rằng việc có một khung quy định chính thức là điều kiện tiên quyết để xây dựng văn hóa liêm chính trong nghiên cứu.

“Có quy định rõ ràng thì mới có cơ sở để thực hiện. Tôi tin rằng quá trình này sẽ diễn ra từng bước, nhưng về lâu dài các nguyên tắc liêm chính khoa học sẽ ngày càng được thực thi nghiêm ngặt hơn trong hoạt động nghiên cứu”, Tiến sĩ Lê Đông Phương bày tỏ.

Đừng để sự nghiệp khoa học “kiếm củi ba năm, thiêu một giờ”

Ở góc nhìn của một nhà nghiên cứu trẻ, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải đánh giá các chế tài được quy định trong Hướng dẫn đã đi theo hướng phù hợp khi phân loại mức độ vi phạm thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng nhất cho mọi hành vi.

Tuy nhiên, vị giảng viên cũng nhìn nhận, hiệu quả răn đe của các chế tài cuối cùng vẫn phụ thuộc vào năng lực thực thi của các cơ sở nghiên cứu.

“Một văn bản tốt mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan tài trợ phải cụ thể hóa thành quy định nội bộ, xây dựng quy trình tiếp nhận phản ánh, xác minh độc lập, bảo vệ người cung cấp thông tin cũng như quyền giải trình của người bị tố cáo, đồng thời xử lý vi phạm một cách nhất quán dựa trên bằng chứng.

Nếu làm tốt các biện pháp phòng ngừa như tập huấn định kỳ, lưu trữ dữ liệu gốc, nhật ký nghiên cứu, kê khai đóng góp tác giả, rà soát đạo văn và khai báo sử dụng AI, thì chế tài không chỉ mang ý nghĩa răn đe mà còn trở thành công cụ định hướng thực hành nghiên cứu đúng chuẩn mực”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải nhấn mạnh.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải, mục tiêu cuối cùng của Hướng dẫn không nên chỉ là “chỉ là bắt lỗi nhà nghiên cứu”, mà quan trọng hơn là xây dựng một môi trường nghiên cứu trong đó nhà khoa học hiểu rõ các chuẩn mực nghề nghiệp, có công cụ để thực hành đúng và có cơ chế để tự bảo vệ mình.

“Uy tín khoa học là tài sản rất khó gây dựng nhưng có thể mất đi rất nhanh. Đừng để sự nghiệp khoa học của mình ‘kiếm củi ba năm, thiêu một giờ’”, Tiến sĩ Nguyễn Viết Hải chia sẻ.

16.png
fda23a90-6114-42db-a0b3-557a0dcf6e72.png
Ảnh minh hoạ

Không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các trường đại học và viện nghiên cứu, câu chuyện liêm chính khoa học hiện cũng được quan tâm ở bậc phổ thông, đặc biệt trong bối cảnh các cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật ngày càng có ảnh hưởng tới cơ hội xét tuyển đại học và định hướng học tập của học sinh.

Theo Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là lo ngại tình trạng “nghiên cứu hộ” hoặc ghi nhận chưa đúng mức đóng góp của các bên tham gia.

Theo thầy Dũng, trong một số trường hợp, học sinh có thể chỉ đảm nhận vai trò trình bày sản phẩm, trong khi phần lớn công việc nghiên cứu lại do người khác thực hiện. Bên cạnh đó, áp lực thành tích và việc coi giải thưởng khoa học kỹ thuật như một lợi thế trong tuyển sinh đại học cũng có thể khiến mục tiêu giáo dục của cuộc thi bị lệch hướng.

“Thay vì khuyến khích tư duy khoa học, tinh thần khám phá và khả năng giải quyết vấn đề, một số nơi lại có xu hướng tập trung vào việc đạt giải thưởng hoặc xây dựng hồ sơ thành tích”, chuyên gia nhận định.

Để bảo đảm tính trung thực và giá trị giáo dục của hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường, vị chuyên gia cho rằng cần xây dựng các tiêu chí rõ ràng nhằm đánh giá mức độ đóng góp thực chất của học sinh đối với dự án nghiên cứu.

Theo đó, học sinh cần chứng minh được vai trò chủ đạo trong các khâu quan trọng như hình thành ý tưởng, thực hiện thí nghiệm hoặc thu thập dữ liệu, phân tích kết quả và trình bày báo cáo nghiên cứu. Giáo viên hướng dẫn có vai trò hỗ trợ, định hướng về phương pháp nhưng không thay thế học sinh thực hiện đề tài.

Cùng với đó, cần tăng cường các cơ chế minh bạch như xây dựng nhật ký nghiên cứu, lưu giữ dữ liệu gốc, kê khai đầy đủ sự hỗ trợ từ chuyên gia hoặc đơn vị bên ngoài, đồng thời áp dụng công cụ kiểm tra trùng lặp đối với báo cáo nghiên cứu.

“Khâu phỏng vấn trực tiếp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua trao đổi chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu, cách xử lý dữ liệu hay các quyết định chuyên môn trong quá trình thực hiện đề tài, ban giám khảo có thể đánh giá tương đối chính xác mức độ hiểu biết và sự tham gia thực chất của học sinh”, thầy Dũng chia sẻ.

Theo Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng, để các cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật thực sự phát huy ý nghĩa giáo dục, cần chuyển trọng tâm đánh giá từ kết quả và giải thưởng sang quá trình nghiên cứu. Những dự án giải quyết các vấn đề thực tiễn của địa phương, thể hiện sự sáng tạo và chủ động của học sinh cần được khuyến khích nhiều hơn so với các đề tài quá phức tạp nhưng khó xác định mức độ đóng góp thực chất của người học.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Lê Đông Phương cho rằng cần nhìn nhận đúng vai trò và mục tiêu của các cuộc thi nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông.

Theo ông, mục tiêu quan trọng nhất của những sân chơi này là tạo cơ hội để học sinh tiếp cận phương pháp nghiên cứu, rèn luyện tư duy khoa học và kỹ năng giải quyết vấn đề, thay vì coi đây là công cụ để xác định năng lực học thuật hay trình độ khoa học của một cá nhân.

“Các cuộc thi chỉ phản ánh kết quả của một hoạt động cụ thể trong một thời điểm nhất định. Không nên xem thành tích tại một cuộc thi là căn cứ để đánh giá toàn diện năng lực hay tiềm năng phát triển của một học sinh. Càng không nên biến các em thành những ‘thần đồng’ chỉ dựa trên kết quả của một sân chơi học thuật”, Tiến sĩ Lê Đông Phương bày tỏ.

Để tăng tính khách quan và minh bạch, ông cho rằng có thể nghiên cứu mở rộng vai trò giám sát của các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội có chuyên môn phù hợp, chẳng hạn như các hội khoa học và kỹ thuật.

Theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, sự tham gia của các tổ chức độc lập không chỉ góp phần nâng cao tính khách quan trong đánh giá mà còn giúp các cuộc thi trở về đúng bản chất là sân chơi học thuật nhằm khuyến khích học sinh học hỏi, khám phá và phát triển tư duy khoa học.

“Điều quan trọng nhất không phải là các em đạt giải gì, mà là các em học được gì từ quá trình nghiên cứu. Nếu giữ được tinh thần đó, các cuộc thi mới thực sự có giá trị giáo dục và góp phần hình thành những công dân có tư duy khoa học trong tương lai”, ông chia sẻ.

Doãn Nhàn