Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tuyển sinh ngành Tâm lý học giáo dục (mã ngành: 7310403) từ năm 2024. Năm 2026, nhà trường dự kiến tuyển 190 chỉ tiêu cho ngành học này.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Tâm lý học giáo dục, sinh viên có thể đảm nhiệm đa dạng các vị trí chuyên môn. Đó là chuyên viên tâm lý học trường học; giảng dạy hoạt động trải nghiệm - hướng nghiệp, kỹ năng sống tại trường phổ thông; nghiên cứu Tâm lý học giáo dục; chuyên viên tư vấn, tham vấn và trị liệu tâm lý; giáo viên giáo dục hòa nhập tại các trung tâm chẩn đoán và can thiệp cho trẻ có nhu cầu đặc biệt hoặc các cơ sở giáo dục.
Cùng với đó, cử nhân ngành Tâm lý học giáo dục có năng lực thấu hiểu con người để làm việc tại các bộ phận nhân sự, tuyển dụng hoặc chăm sóc khách hàng trong các doanh nghiệp; trở thành nghiên cứu viên hoặc nhân viên hỗ trợ xã hội tại các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức quốc tế. Nếu có đam mê sư phạm, sinh viên có thể tham gia giảng dạy các học phần về Tâm lý học và Giáo dục học tại các cơ sở đào tạo.
Chương trình đào tạo gắn với thực tiễn nghề nghiệp
Đánh giá về nhu cầu nhân lực ngành Tâm lý học giáo dục, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Doãn Ngọc Anh - Trưởng khoa Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho biết: “Hiện nay, khi học sinh và sinh viên đang phải đối diện với nhiều áp lực từ học tập, định hướng nghề nghiệp, các mối quan hệ xã hội và tác động mạnh mẽ của môi trường số, vấn đề sức khỏe tinh thần học đường đang trở thành mối quan tâm lớn. Những biểu hiện như căng thẳng, lo âu, khủng hoảng cảm xúc, bắt nạt học đường hay phụ thuộc mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi học sinh. Bởi vậy, công tác tham vấn, hỗ trợ tâm lý và giáo dục cảm xúc - xã hội trong nhà trường càng trở nên cấp thiết.
Việt Nam vẫn đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tâm lý học đường, đặc biệt là đội ngũ có khả năng can thiệp chuyên sâu đối với các vấn đề như lo âu, trầm cảm, sang chấn tâm lý hay khó khăn trong hành vi ở học sinh. Vì vậy, nhu cầu nhân lực ngành Tâm lý học giáo dục đang gia tăng không chỉ trong trường học mà còn ở các trung tâm tham vấn, cơ sở giáo dục, tổ chức xã hội và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần cộng đồng”.
Trước thực tế, nhiều thí sinh vẫn còn nhầm lẫn giữa ngành Tâm lý học và ngành Tâm lý học giáo dục. Tiến sĩ Doãn Ngọc Anh chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi nằm ở tính ứng dụng và môi trường nghề nghiệp của ngành học. Nếu ngành Tâm lý học tập trung nghiên cứu bản chất và các quy luật chung của đời sống tâm lý con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau thì Tâm lý học giáo dục là ngành khoa học ứng dụng, tập trung nghiên cứu và vận dụng các kiến thức tâm lý học vào môi trường giáo dục nhằm hỗ trợ người học phát triển toàn diện về nhận thức, cảm xúc và hành vi.
Tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, ngành Tâm lý học giáo dục được xây dựng theo định hướng liên ngành hiện đại, tích hợp giữa Tâm lý học để hiểu con người, Giáo dục học để hiểu môi trường sư phạm, Xã hội học để hiểu bối cảnh xã hội và Công nghệ để thích ứng với xã hội số hiện nay.
Chương trình đào tạo gồm 130 tín chỉ với cấu trúc hợp lý giữa lý thuyết và thực hành. Sinh viên được trang bị khối kiến thức nền tảng về Tâm lý học đại cương, Giáo dục học đại cương, Xã hội học, Sinh lý thần kinh và các học phần liên quan đến sự phát triển con người. Đây là cơ sở giúp sinh viên hiểu được đặc điểm tâm lý, hành vi và quá trình phát triển nhân cách của người học trong các giai đoạn khác nhau.
Ở khối kiến thức chuyên ngành, sinh viên được tiếp cận các học phần mang tính ứng dụng cao như Tâm lý học dạy học, Tâm lý học lứa tuổi, Tham vấn học đường, Tâm bệnh học, Trị liệu tâm lý, Trắc nghiệm tâm lý lâm sàng và các kỹ năng hỗ trợ tâm lý trong môi trường giáo dục.
Đội ngũ giảng viên khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.
Tiến sĩ Doãn Ngọc Anh cho biết thêm, là một trong những trường sư phạm có truyền thống lâu năm được thành lập từ năm 1967, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 có nhiều lợi thế trong đào tạo ngành Tâm lý học giáo dục. Nhà trường sở hữu môi trường sư phạm chuyên nghiệp, hệ thống liên kết thực tập rộng khắp với các trường phổ thông, trung tâm giáo dục và các cơ sở chăm sóc sức khỏe tinh thần, tạo điều kiện để sinh viên được trải nghiệm nghề nghiệp ngay trong quá trình học tập.
Một lợi thế lớn của Khoa Tâm lý - Giáo dục là đội ngũ giảng viên có chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Hiện nay, Khoa có 10 Tiến sĩ cùng đội ngũ giảng viên tâm huyết, giàu kinh nghiệm trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hoạt động thực hành nghề nghiệp trong lĩnh vực tâm lý học đường, tham vấn và giáo dục.
Việc Bộ môn Tâm lý - Giáo dục được chuyển đổi thành Khoa vào năm 2024 là dấu mốc có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển của nhà trường. Đây không chỉ là sự thay đổi về mặt tổ chức mà còn khẳng định vị thế và tiềm năng phát triển của lĩnh vực Tâm lý học giáo dục trong bối cảnh giáo dục hiện đại ngày càng quan tâm tới sức khỏe tinh thần học đường.
Việc thành lập khoa tạo điều kiện để mở rộng quy mô đào tạo, phát triển các chương trình sau đại học, tăng cường hợp tác chuyên môn, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và đầu tư mạnh hơn cho cơ sở vật chất, đặc biệt là hệ thống phòng thực hành Tâm lý học giáo dục hiện đại. Sinh viên cũng có thêm nhiều cơ hội tham gia các hoạt động học thuật, nghiên cứu, trải nghiệm nghề nghiệp và kết nối với các đơn vị tuyển dụng trong lĩnh vực giáo dục học và tâm lý học.
Phẩm chất và kỹ năng nghề nghiệp đặc thù ra sao?
Điểm nổi bật của chương trình đào tạo ngành Tâm lý học giáo dục tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là định hướng “học qua trải nghiệm - thực hành - tương tác”. Sinh viên không chỉ học kiến thức trong giảng đường mà còn được tiếp cận thực tế nghề nghiệp từ sớm thông qua hoạt động kiến tập, thực tập tại trường phổ thông, trung tâm tâm lý và các cơ sở giáo dục.
Nhà trường đặc biệt chú trọng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp như tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm, xử lý tình huống tâm lý học đường, sử dụng công cụ đánh giá tâm lý và kỹ năng ứng dụng công nghệ trong môi trường giáo dục số. Khoa cũng tăng cường hợp tác với nhiều đơn vị chuyên biệt như Trung tâm Giáo dục hòa nhập Phúc Yên, Trung tâm Giáo dục Ngày mới cùng các cơ sở hỗ trợ trẻ em và tham vấn học đường để sinh viên được rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trong môi trường thực tế.
Ngoài ra, sinh viên còn được tham gia các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học, dự án Podcast, sáng tạo nội dung truyền thông giáo dục, cuộc thi Olympic Tâm lý học giáo dục, Nét đẹp sinh viên cùng nhiều hoạt động trải nghiệm khác nhằm phát triển kỹ năng nghề nghiệp toàn diện.
“Chúng tôi cho rằng, việc được tiếp cận thực tế từ sớm không chỉ giúp sinh viên trưởng thành về chuyên môn mà còn hình thành sự thấu cảm, trách nhiệm nghề nghiệp và khả năng đồng hành cùng người học trong tương lai” - vị Trưởng khoa nhấn mạnh.
Trong bối cảnh giáo dục hiện đại đang thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ và xã hội số, Tiến sĩ Doãn Ngọc Anh phân tích, sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải hội tụ nhiều phẩm chất và kỹ năng nghề nghiệp đặc thù.
Điều quan trọng nhất là lòng nhân văn, sự thấu cảm và khả năng lắng nghe. Người làm trong lĩnh vực tâm lý học giáo dục cần biết tôn trọng sự khác biệt, hiểu cảm xúc của người học và giữ được tinh thần tích cực khi đồng hành cùng học sinh, phụ huynh và nhà trường. Đây là những phẩm chất nền tảng tạo nên giá trị nghề nghiệp của một người làm công tác hỗ trợ tâm lý và giáo dục.
Cùng với đó, sinh viên cần rèn luyện kỹ năng tham vấn tâm lý, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, làm việc nhóm và khả năng thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh hiện nay, các hình thức tham vấn không chỉ diễn ra trực tiếp mà còn mở rộng sang môi trường trực tuyến, vì vậy sinh viên cần có khả năng tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm và hỗ trợ tâm lý qua internet một cách phù hợp, an toàn và đúng đạo đức nghề nghiệp.
Đồng thời, sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục cần có năng lực sử dụng các công cụ đánh giá và trắc nghiệm tâm lý lâm sàng, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ chuyên môn và ý thức bảo đảm an toàn thông tin trong môi trường số. Năng lực ngoại ngữ cũng là yêu cầu rất cần thiết để tiếp cận các tài liệu chuyên ngành, thang đo quốc tế và xu hướng mới của khoa học Tâm lý giáo dục trên thế giới.
Tiến sĩ Doãn Ngọc Anh bày tỏ: “Tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, chúng tôi luôn hướng tới việc đào tạo sinh viên không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và năng lực thích ứng với sự thay đổi của giáo dục hiện đại. Chúng tôi mong muốn các em sẽ trở thành những người đồng hành tích cực với học sinh, những 'người gác cổng tâm hồn' thực thụ trong môi trường học đường hôm nay và tương lai”.
Chia sẻ lý do chọn ngành Tâm lý học giáo dục tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, em Tạ Thị Thùy cho biết: "Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là ngôi trường có bề dày truyền thống đào tạo và có uy tín trong lĩnh vực sư phạm, khoa học giáo dục. Điều khiến em ấn tượng nhất khi tìm hiểu về ngành Tâm lý học giáo dục là định hướng đào tạo nhân văn, không chỉ giúp sinh viên học kiến thức chuyên môn mà còn hướng tới việc 'hiểu chính mình - tìm ý nghĩa - tạo thay đổi'. Em cảm nhận đây không chỉ là việc theo đuổi một ngành học mà còn là hành trình giúp mỗi người trưởng thành hơn về nhận thức và cảm xúc.
Trước khi vào học, em từng nghĩ học tâm lý chủ yếu là học lý thuyết hoặc chỉ liên quan đến điều trị tâm lý và cũng nhầm lẫn giữa ngành Tâm lý học và Tâm lý học giáo dục. Tuy nhiên, sau một thời gian học tập, em nhận ra chương trình đào tạo của ngành hiện đại và đa chiều. Sinh viên không chỉ học về tâm lý con người mà còn được tiếp cận kiến thức về Giáo dục học, Xã hội học và Công nghệ để tăng khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh".
Đánh giá về cơ hội được tham gia thực hành, trải nghiệm và tiếp cận môi trường học đường ngay từ khi còn là sinh viên, em Hoàng Thị Hà Phương cho rằng, đây là lợi thế quan trọng đối với ngành Tâm lý học giáo dục. Việc vận dụng thực hành trong các tình huống thực tế giúp sinh viên rèn nghề và tiếp cận với nhiều cơ hội việc làm. Sinh viên vừa có thể quan sát tâm lý hành vi của học sinh ở nhiều độ tuổi khác nhau vừa có thể rèn luyện kỹ năng lắng nghe, giao tiếp và xử lý các tình huống thực tế. Không những vậy khi hiểu rõ hơn về môi trường giáo dục, những áp lực học đường và nhu cầu cần được hỗ trợ về mặt tâm lý của học sinh, sinh viên sẽ tích lũy cho bản thân những kinh nghiệm vô cùng quý giá cho hành trang nghề nghiệp tương lai.
"Ngay từ năm thứ nhất, sinh viên đã được định hướng nghề nghiệp và tham gia các học phần Thực hành Tâm lý học giáo dục, từ đó có cơ hội quan sát, trải nghiệm và hiểu hơn về công việc thực tế trong môi trường học đường. Ngoài giờ học trên lớp, sinh viên còn được tham gia kiến tập, thực tập tại các trường phổ thông, trung tâm tham vấn và các cơ sở giáo dục liên kết với nhà trường.
Những trải nghiệm đó giúp chúng em được va chạm với các tình huống thực tế, rèn luyện khả năng giao tiếp, xử lý tình huống và hiểu rõ hơn trách nhiệm nghề nghiệp của người làm công tác tâm lý học đường. Bên cạnh đó, khoa cũng tạo điều kiện để sinh viên tham gia nhiều hoạt động học thuật và trải nghiệm. Đây là cơ hội tốt để sinh viên phát triển toàn diện cả chuyên môn lẫn kỹ năng mềm", sinh viên Hà Phương chia sẻ.