GS, PGS: Nên được nhìn nhận là học hàm, chức danh học thuật, vị trí việc làm hay chức vụ học thuật

13/06/2026 06:26
Hà An

GDVN -Một vấn đề khác cũng được nhiều người quan tâm là nên đánh giá giáo sư bằng gì? Bằng số lượng bài báo? Bằng chỉ số trích dẫn? Bằng số đề tài? Hay bằng ảnh hưởng học thuật thực chất?

Nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ giáo sư, phó giáo sư

Những trao đổi gần đây trong giới học thuật về giáo sư, phó giáo sư cho thấy đây không còn là câu chuyện riêng của tiêu chuẩn hay quy trình xét chọn, mà sâu xa hơn là vấn đề cách hiểu và định vị vai trò của đội ngũ học giả trong xã hội hiện đại.

Nhiều ý kiến khác nhau xuất hiện. Có người xem giáo sư là học hàm mang tính tôn vinh học thuật; có người cho rằng đây là chức danh nghề nghiệp; có ý kiến tiếp cận như vị trí việc làm; cũng có quan điểm coi giáo sư là một dạng chức vụ học thuật gắn với trách nhiệm dẫn dắt chuyên môn.

Sự khác nhau trong cách hiểu này là điều dễ lí giải, bởi trên thế giới cũng không tồn tại một mô hình hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, nếu không phân định tương đối rõ các khái niệm, rất dễ dẫn tới chồng chéo trong quản trị, trong đánh giá đội ngũ và cả trong nhận thức xã hội.

1.jpg
Ảnh minh họa: nguồn VTV

Nếu xem giáo sư, phó giáo sư là “học hàm”, thì trọng tâm sẽ nghiêng về ghi nhận năng lực học thuật, cống hiến nghiên cứu và uy tín khoa học của cá nhân. Khi đó, giá trị lớn nhất của giáo sư nằm ở ảnh hưởng học thuật, khả năng dẫn dắt tri thức, vai trò đào tạo thế hệ kế cận và đóng góp cho cộng đồng khoa học. Trong cách tiếp cận này, giáo sư gần với một sự ghi nhận mang tính học thuật và danh dự nghề nghiệp.

Nếu tiếp cận theo hướng “chức danh học thuật”, giáo sư không chỉ là sự ghi nhận mà còn là vị trí chuyên môn trong môi trường đại học, có tiêu chuẩn học thuật rõ ràng, được trường đại học bổ nhiệm để thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh, phát triển chương trình đào tạo, xây dựng nhóm nghiên cứu, kết nối quốc tếvà phát triển học thuật cho đơn vị. Đây là mô hình phổ biến ở nhiều đại học nghiên cứu lớn trên thế giới.

Trong khi đó, nếu giáo sư được xem là “vị trí việc làm”, thì logic quản trị sẽ thay đổi đáng kể. Khi đã là vị trí việc làm, giáo sư phải gắn với nhiệm vụ cụ thể, sản phẩm đầu ra, hiệu quả hoạt động, trách nhiệm giải trình và vai trò dẫn dắt học thuật tương ứng. Lúc đó, giáo sư có phần gần với vai trò như trưởng phòng thí nghiệm, trưởng nhóm nghiên cứu, người dẫn dắt học thuật, hoặc người chủ trì các hướng nghiên cứu lớn. Theo hướng này, việc bổ nhiệm có thời hạn, đánh giá định kì hay thay đổi theo nhu cầu phát triển của trường là điều có thể hiểu được.

Tuy nhiên, nếu tiếp cận quá mạnh theo hướng hành chính hóa vị trí việc làm, sẽ dễ xuất hiện một số băn khoăn trong giới học thuật. Bởi hoạt động học thuật có đặc thù khác với quản lí hành chính thông thường.

Ảnh hưởng của một giáo sư đôi khi không nằm ở chức vụ quản lí hay số lượng đầu việc hành chính, mà nằm ở trường phái học thuật họ tạo ra, học trò họ đào tạo, công trình họ để lại, sức lan tỏa khoa học, khả năng truyền cảm hứng và giá trị tri thức mà họ đóng góp cho xã hội.

Có những giáo sư không giữ chức vụ quản lí nào nhưng lại là “linh hồn học thuật” của cả một lĩnh vực. Ngược lại, nếu chỉ nhìn giáo sư như một “vị trí nhân sự”, rất dễ làm giảm ý nghĩa học thuật và động lực phấn đấu lâu dài.

Nên đánh giá giáo sư, phó giáo sư bằng tiêu chí nào?

Một vấn đề khác cũng được nhiều người quan tâm là nên đánh giá giáo sư bằng gì? Bằng số lượng bài báo? Bằng chỉ số trích dẫn? Bằng số đề tài? Hay bằng ảnh hưởng học thuật thực chất?

Trên thực tế, các hệ thống đại học tiên tiến thường không chỉ đánh giá bằng một tiêu chí đơn lẻ.

Tại Mỹ, giáo sư được đánh giá tổng hợp gồm nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn học trò, phục vụ cộng đồng học thuật và khả năng tạo ảnh hưởng học thuật.

Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, giáo sư thường gắn rất chặt với nhóm nghiên cứu và năng lực thu hút kinh phí nghiên cứu.

Trung Quốc trong nhiều năm gần đây đặc biệt nhấn mạnh công bố quốc tế, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và sức cạnh tranh học thuật toàn cầu.

Trong khi đó, nhiều quốc gia châu Âu vẫn rất coi trọng chiều sâu học thuật, ảnh hưởng trường phái, chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, và sự ghi nhận của cộng đồng khoa học.

Điểm chung dễ nhận thấy là các hệ thống mạnh đều cố gắng cân bằng giữa chuẩn hóa học thuật, tự chủ đại học, trách nhiệm giải trình và sự tôn trọng đặc thù của khoa học.

Có lẽ điều quan trọng hiện nay không phải là tranh luận giáo sư là “học hàm” hay “vị trí việc làm”, mà là làm sao xây dựng được một cơ chế đánh giá đủ minh bạch, đủ công bằng và đủ khuyến khích những người làm học thuật thật sự.

Theo xu hướng quốc tế, việc đánh giá và bổ nhiệm giáo sư cần được giao cho các cơ sở giáo dục đại học có uy tín, có năng lực học thuật và có hệ thống quản trị minh bạch. Bởi chính các trường đại học là nơi hiểu rõ nhất nhu cầu phát triển học thuật, chất lượng đội ngũ và khả năng đóng góp thực chất của từng cá nhân.

Tuy nhiên, trao quyền không có nghĩa là buông lỏng. Tự chủ đại học chỉ thật sự có ý nghĩa khi đi cùng trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát khách quan.

Điều cần hướng tới không phải là tăng thêm thủ tục hành chính hay các tầng nấc kiểm soát hình thức, mà là giảm hành chính hóa trong quản trị học thuật, tăng cường quản trị số và đánh giá dựa trên dữ liệu.

Ngày nay, nhiều chỉ số học thuật đã có thể được xác lập và kiểm chứng thông qua cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế, hệ thống trích dẫn, dữ liệu công bố, mức độ ảnh hưởng học thuật, mạng lưới hợp tác nghiên cứu, năng lực thu hút kinh phí, chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh và sự ghi nhận của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước.

Chuyển đổi số và dữ liệu học thuật mở hoàn toàn có thể giúp giảm đáng kể tính cảm tính, hình thức hay nể nang trong đánh giá học thuật. Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát đa chiều thông qua phản biện học thuật, cơ sở dữ liệu mở, cộng đồng khoa học, người học…

Việc giám sát cần dựa trên nguyên tắc khách quan, minh bạch và có căn cứ học thuật rõ ràng, tránh cực đoan hóa hoặc biến phản biện học thuật thành công cụ công kích cá nhân.

Liêm chính học thuật là nguyên tắc bắt buộc. Nhưng danh dự, uy tín và nhân phẩm của nhà giáo, nhà khoa học chân chính cũng cần được tôn trọng và bảo vệ.

Một môi trường đại học lành mạnh không chỉ xử lí nghiêm sai phạm, mà còn phải biết bảo vệ những người làm khoa học tử tế trước các biểu hiện suy diễn, quy chụp hoặc cạnh tranh thiếu lành mạnh.

Cũng cần nhìn nhận rằng, giáo sư và phó giáo sư không chỉ là nguồn lực của riêng một cơ sở đào tạo, mà còn là tài sản tri thức của quốc gia.

Vì vậy, việc ghi nhận, tôn vinh và đãi ngộ đội ngũ này cần có sự tham gia mạnh mẽ hơn từ phía Nhà nước, thay vì chủ yếu đặt gánh nặng lên từng cơ sở giáo dục đại học.

Ở nhiều quốc gia, sự tôn vinh học giả không chỉ thể hiện qua lương từ đơn vị sử dụng lao động, mà còn thông qua chính sách nghiên cứu quốc gia, quỹ khoa học, chế độ học thuật đặc biệt, hỗ trợ nghiên cứu dài hạn, giải thưởng khoa học và môi trường phát triển học thuật bền vững.

Một quốc gia muốn phát triển bằng tri thức thì cần biết trân trọng những người tạo ra tri thức. Suy cho cùng, giáo sư hay phó giáo sư không nên chỉ được nhìn như một “danh xưng”. Điều xã hội cần nhất vẫn là những học giả thực sự tạo ra tri thức, dẫn dắt học thuật, truyền cảm hứng, đào tạo thế hệ kế cận và đóng góp cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Hà An