Đây là vấn đề được đội ngũ giáo viên mầm non quan tâm. Theo lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu theo Luật Lao động và theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 135/2020/NĐ-CP về lộ trình tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường gắn với tháng, năm sinh tương ứng thì vào năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của lao động nam và nữ như sau: Lao động nam 61 tuổi 6 tháng và lao động nữ 57 tuổi. Theo đó, năm 2026, giáo viên nữ sẽ được nghỉ hưu ở 57 tuổi.
Giáo viên mầm non được nghỉ hưu trước 5 tuổi nếu có nguyện vọng
Từ ngày 01/01/2026, Luật Nhà giáo 2025 chính thức có hiệu lực. So với trước đây, các quy định mới được đánh giá là linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù nghề nghiệp và từng nhóm nhà giáo.
Từ năm 2026, theo lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu được quy định tại Bộ luật Lao động 2019, áp dụng cho người lao động nói chung, trong đó có giáo viên:
Giáo viên nam nghỉ hưu ở tuổi 61 tuổi 6 tháng. Giáo viên nữ nghỉ hưu ở tuổi 57 tuổi.
Từ các năm tiếp theo, tuổi nghỉ hưu sẽ tiếp tục tăng dần cho đến khi đạt mốc 62 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ theo lộ trình đã được pháp luật quy định.
Theo khoản 2 Điều 26 Luật Nhà giáo 2025 quy định: Nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non nếu có nguyện vọng thì có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường nhưng không quá 05 tuổi. Trường hợp có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
Theo lộ trình, nếu nghỉ hưu ở tuổi bình thường, từ 01/01/2026 giáo viên nữ dạy ở trường mầm non sẽ nghỉ hưu ở 57 tuổi, tuy nhiên, theo Luật Nhà giáo, giáo viên mầm non nếu có nguyện vọng sẽ được nghỉ hưu trước 5 tuổi, sẽ được nghỉ hưu ở 52 tuổi.
Do đó, từ năm 2026, giáo viên mầm non (nữ) từ 52-56 tuổi đang công tác, nếu có nguyện vọng sẽ được nghỉ hưu.
Năm 2026, giáo viên mầm non là nữ tuổi từ 52 – 56 sẽ không được nghỉ theo diện tinh giản biên chế?
Ngày 09 tháng 6 năm 2026, Bộ Nội vụ ban hành Công văn Số: 5859/BNV-TCBC về việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với giáo viên mầm non.
Theo đó, nội dung Công văn nêu:
Đối với giáo viên mầm non có tuổi đời thấp hơn tối đa không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường
Tại khoản 2 Điều 26 Luật Nhà giáo đã quy định chính sách đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non được nghỉ hưu thấp hơn tối đa không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Theo đó, trường hợp giáo viên mầm non có tuổi đời thấp hơn tối đa không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường mà có nguyện vọng nghỉ hưu thì thực hiện chính sách nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội nên không đặt vấn đề thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP đối với trường hợp đã đủ tuổi nghỉ hưu.
Trường hợp giáo viên mầm non còn lại (không thuộc đối tượng quy định tại điểm 1 Văn bản này) và thuộc một trong các đối tượng thực hiện tinh giản biên chế quy định tại Điều 2 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị và Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với giáo viên mầm non theo quy định tại Nghị định số 154/2024/NĐ-CP.
Do đó, Công văn này nêu nếu giáo viên mầm non còn dưới 5 năm nghỉ hưu thì sẽ thực hiện nghỉ hưu trước tuổi và được hưởng đầy đủ chính sách (không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu nếu đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định), giáo viên có nguyện vọng tiếp tục công tác thì vẫn làm việc bình thường và không giải quyết chế độ tinh giản biên chế theo Nghị định 154/2024/NĐ-CP.
Chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 154
Theo quy định ở nghị định 154, người nghỉ hưu trước tuổi nếu có tuổi đời còn từ 2 đến 5 năm mới đến tuổi nghỉ hưu, có đủ thời gian công tác đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, trong đó 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trước 1-1-2021), ngoài chế độ hưu trí theo quy định về bảo hiểm xã hội sẽ không bị trừ tỉ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi.
Những người này được nhận 5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.
Khoản trợ cấp theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở người có từ 20 năm công tác thì 20 năm đầu được trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng.
Từ năm 21 mỗi năm được trợ cấp 0,5 tháng tiền lương hiện hưởng. Người có từ 15 đến dưới 20 năm công tác được trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng.
Người còn đủ 2 đến đủ 5 năm đến tuổi nghỉ hưu, có đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, ngoài chế độ hưu trí sẽ không bị trừ tỉ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi. Cùng với đó, được trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.
Khoản trợ cấp theo thời gian công tác với người từ 20 năm thì 20 năm đầu được trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng, từ năm 21 mỗi năm được 0,5 tháng tiền lương hiện hưởng. Người từ 15 đến 20 năm công tác được trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng.
Người còn dưới 2 năm đến tuổi nghỉ hưu, có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, trong đó đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc ở vùng đặc biệt khó khăn sẽ được hưởng chế độ hưu trí theo quy định về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỉ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi.
Người còn dưới 2 năm đến tuổi nghỉ hưu, có đủ thời gian công tác để hưởng lương hưu, sẽ được hưởng chế độ hưu trí theo quy định về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỉ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi.
Nghị định cũng quy định chế độ chính sách khi chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước và chính sách thôi việc.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.