Từ giảng đường đến phòng thí nghiệm quốc tế: Hành trình nghiên cứu khoa học của nam sinh VNU-IS

17/06/2026 06:22
Hồng Linh

GDVN - Em Lê Bá Tùng Dương - Sinh viên năm 4 ngành Tự động hóa và Tin học, Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Quốc tế (ĐHQGHN) nổi bật với nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học quốc tế.

Em Lê Bá Tùng Dương là sinh viên tiêu biểu của ngành Tự động hóa và Tin học, Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Tùng Dương giữ nhiều vị trí như Phó Bí thư Chi đoàn, Lớp trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Kiểm tra Liên chi đoàn Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Tài năng trẻ IYOUTH, Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Khoa học và Công nghệ ISTC…

Đặc biệt, nam sinh gây ấn tượng với việc tham gia và là đồng tác giả nhiều công trình nghiên cứu được công bố tại các hội nghị và tạp chí khoa học quốc tế tập trung vào các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, thị giác máy tính và ứng dụng IoT (internet vạn vật).

Tùng Dương còn từng thực tập nghiên cứu tại phòng thí nghiệm AI tại Đài Loan (Trung Quốc) và có kế hoạch tham gia các chương trình học thuật và nghiên cứu khác tại Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, Đại học Giao thông Thượng Hải và Đại học Công nghệ Đại Liên (Trung Quốc).

Cân bằng giá trị học thuật và khả năng triển khai thực tiễn trong các nghiên cứu

Chia sẻ về cơ duyên đến với con đường nghiên cứu khoa học, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, em Lê Bá Tùng Dương bày tỏ: “Trong quá trình học tập tại Trường Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), khi học các môn chuyên ngành, em thấy bản thân không chỉ thích vận dụng kiến thức để giải bài tập kỹ thuật mà còn muốn tìm hiểu sâu hơn về nguyên lý và bản chất vấn đề. Bước ngoặt lớn là khi em được tham gia nhóm nghiên cứu AI của trường và thực hiện đề tài đầu tiên cho Hội nghị Nghiên cứu khoa học sinh viên. Em được học cách đặt câu hỏi nghiên cứu, xây dựng thí nghiệm, phân tích dữ liệu. Công trình đầu tiên được chấp nhận báo cáo tại một hội thảo quốc tế đã giúp em tự tin hơn và nhận ra sinh viên hoàn toàn có thể làm nghiên cứu nếu được định hướng đúng.

Bên cạnh đam mê khám phá tri thức mới, em đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu vì điều này rèn luyện cho em cách tư duy mới. Nghiên cứu đòi hỏi em phải giải thích được tính tối ưu của các phương pháp, chứng minh bằng thực nghiệm và có cơ sở khoa học rõ ràng. Quá trình đó giúp em hình thành tư duy phản biện, khả năng tự học và thói quen nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ. Ngoài ra, em luôn quan tâm đến ứng dụng thực tế của công nghệ nên trong các dự án nghiên cứu em thường cố gắng cân bằng giữa giá trị học thuật và khả năng triển khai thực tiễn”.

Một trong những công trình đầu tiên Tùng Dương tham gia là nghiên cứu “High Accuracy Surgical Instrument Detection with YOLOv8 Model and Remote Monitoring”, tập trung vào ứng dụng thị giác máy tính trong nhận diện dụng cụ phẫu thuật nội soi và hỗ trợ giám sát từ xa trong môi trường y tế.

Sau đó, nam sinh tiếp tục tham gia các đề tài như “Explainable LSTM-Based Demand Forecasting for Multi-Channel Retail Supply Chain Performance Analysis” được báo cáo tại Hội nghị Quốc tế ICECH 2025; “Transparent AI for Disaster Management: Explainable Landslide Prediction Models to Support Decision-Making” tại Hội nghị Quốc tế COMOSA 2025; và “Efficient Multi-Scale Attention Based on MobileNetV4 Followed OmniSPPF and ODGC2f for Small-Scale Egg Identification” được trình bày tại Hội nghị Quốc tế MCO 2025 tổ chức tại Pháp.

Đồng thời, Tùng Dương cũng tham gia các dự án về dự đoán nguy cơ rối loạn phổ tự kỷ từ dữ liệu fMRI (chụp cộng hưởng từ chức năng) và hành vi, phân tích cấu trúc protein bằng trí tuệ nhân tạo, robot thông minh, các ứng dụng AI trong xử lý ảnh y khoa.

z7931559701124-361a78994e300e3413689513816fa866-7026.jpg
Em Lê Bá Tùng Dương - Sinh viên năm 4 ngành Tự động hóa và Tin học - Khoa Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Trong số các nghiên cứu đã thực hiện, Tùng Dương tâm đắc nhất với dự án “Ứng dụng AI vào phân tích ảnh MRI não bộ và hành vi để hỗ trợ sàng lọc sớm rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em”. Đề tài này có ý nghĩa quan trọng vì không chỉ giúp Tùng Dương tiếp cận sâu hơn với AI trong y sinh mà còn định hình hướng nghiên cứu lâu dài của em sinh viên.

Công trình có cách tiếp cận đa phương thức, thay vì chỉ dùng một nguồn dữ liệu, nghiên cứu kết hợp cả ảnh fMRI cùng các đặc trưng hành vi của trẻ để xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ mắc tự kỷ. Qua đó, Tùng Dương được tìm hiểu về xử lý ảnh y khoa, học máy, phân tích dữ liệu đồ thị và các phương pháp khai thác mạng lưới chức năng não bộ. Giá trị lớn nhất mà công trình mang lại không chỉ nằm ở kết quả mà còn ở những kiến thức và kinh nghiệm nam sinh tích lũy được.

Tùng Dương khẳng định rằng, chỉ có kiến thức kỹ thuật là chưa đủ, nhiều kết quả cần được đối chiếu với bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo tính chính xác và giá trị lâm sàng. Việc được trao đổi với các chuyên gia y tế giúp nam sinh hiểu rõ hơn yêu cầu thực tế của bài toán và học cách tiếp cận nghiên cứu theo góc nhìn liên ngành. Công trình này cũng khơi gợi cho em sinh viên sự quan tâm đến giao diện não - máy tính (BCIs), robot hỗ trợ phục hồi chức năng và các hệ thống thông minh trong y tế.

Nói về vướng mắc lớn nhất khi thực hiện nghiên cứu và công bố quốc tế, Tùng Dương cho biết, đó là sự chuyển đổi từ tư duy học tập, ứng dụng sang tư duy nghiên cứu.

Nam sinh bày tỏ: “Trong các bài tập kỹ thuật, mục tiêu chính là xây dựng được hệ thống hoạt động tốt nhưng trong nghiên cứu khoa học, quan trọng hơn là phải chứng minh được tính mới của ý tưởng, giải thích rõ cơ sở lý thuyết và chỉ ra đóng góp cụ thể so với các công trình trước. Em đã phải dành rất nhiều thời gian để học tập và rèn luyện. Bên cạnh đó, tiếp cận tài liệu học thuật quốc tế cũng là thách thức. Để hiểu một bài báo chuyên ngành, em thường phải đọc thêm nhiều tài liệu nền, tìm hiểu phương pháp và đối chiếu với các nghiên cứu khác. Nhất là với dữ liệu ảnh y khoa và bệnh nhân, kiến thức kỹ thuật không đủ nên em phải trao đổi với chuyên gia y tế để đảm bảo tính chính xác và giá trị ứng dụng. Nhờ đó em học được cách tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ.

Một khó khăn khác là tài nguyên tính toán có hạn. Nhiều mô hình AI hiện đại đòi hỏi phần cứng mạnh, nên em phải tìm hiểu các kỹ thuật tối ưu hóa để giảm chi phí tính toán mà vẫn duy trì hiệu quả. Kỹ năng viết học thuật bằng tiếng Anh ban đầu cũng là thử thách, nhưng nhờ sự hướng dẫn của thầy cô và quá trình làm việc với các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước, em dần cải thiện được điều này”.

Mong muốn theo đuổi lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, robotics và công nghệ y sinh

Từng tham gia nghiên cứu ở phòng thí nghiệm tại một số nơi, Tùng Dương cho biết: “Thời gian thực tập nghiên cứu tại phòng thí nghiệm AI trong y tế ở Đài Loan (Trung Quốc) là trải nghiệm quý giá, giúp em tiếp cận gần hơn với môi trường nghiên cứu quốc tế. Lần đầu tiên em được làm việc trong một môi trường có sự phối hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật, khoa học dữ liệu và các bác sĩ lâm sàng. Điều em học được nhiều nhất là cách tiếp cận bài toán liên ngành. Các kết quả phân tích không chỉ được đánh giá về mặt kỹ thuật mà còn nhận được góp ý trực tiếp từ bác sĩ. Từ đó, em hiểu rõ ý nghĩa lâm sàng của dữ liệu và từng bước xây dựng giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế.

Em cũng được tiếp cận với hạ tầng nghiên cứu hiện đại như hệ thống máy tính hiệu năng cao, thiết bị thí nghiệm chuyên dụng, bộ dữ liệu chuẩn hóa, tất cả đều hỗ trợ đắc lực cho việc kiểm chứng ý tưởng và phát triển mô hình. Sự hỗ trợ nhiệt tình từ các giáo sư, nghiên cứu sinh giúp em học được cách làm việc nhóm, trao đổi học thuật và tiếp cận vấn đề một cách bài bản.

Sắp tới, em tiếp tục tham gia các chương trình học thuật và nghiên cứu tại Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, Đại học Giao thông Thượng Hải và Đại học Công nghệ Đại Liên (Trung Quốc). Mỗi đơn vị có một hướng nghiên cứu riêng về AI, robot, kỹ thuật y sinh và các công nghệ mới nổi. Em kỳ vọng được tiếp cận nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đó hoàn thiện hướng nghiên cứu của bản thân. Cùng với kiến thức chuyên môn, em cũng muốn trải nghiệm các môi trường văn hóa khác, mở rộng góc nhìn học thuật và xây dựng mạng lưới kết nối với các giáo sư, nhà nghiên cứu quốc tế”.

z7931559757799-f0137ad1a7f6d7a7c782934306b69b33-4425.jpg
Em Lê Bá Tùng Dương trình bày nghiên cứu tại Hội nghị Quốc tế COMOSA 2025. Ảnh: NVCC.

Theo Lê Bá Tùng Dương, yếu tố quan trọng nhất giúp sinh viên Việt Nam tham gia các nhóm nghiên cứu quốc tế và xây dựng hồ sơ học thuật đủ sức cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu là sự chủ động học hỏi và kiên trì theo đuổi định hướng nghiên cứu rõ ràng. Một hồ sơ học thuật tốt không chỉ thể hiện qua điểm số hay số lượng hoạt động mà còn là quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và sự quan tâm nghiêm túc lâu dài với một lĩnh vực cụ thể. Khả năng tự học đóng vai trò quan trọng, vì phần lớn kiến thức mới đều đến từ bài báo và dự án thực tế. Sinh viên cần chủ động tìm kiếm cơ hội nghiên cứu từ sớm, rèn kỹ năng đọc tài liệu quốc tế và làm việc nhóm.

Thông qua làm việc với sinh viên, nghiên cứu viên quốc tế, Tùng Dương nhận thấy sinh viên Việt Nam có nhiều điểm mạnh như tinh thần học hỏi cao, thích nghi nhanh, kiên trì với bài toán khó. Đây cũng là lợi thế để cạnh tranh trong môi trường học thuật quốc tế. Mặc dù vậy, vẫn còn một số kỹ năng cần cải thiện như tư duy phản biện và đặt câu hỏi nghiên cứu, kỹ năng viết học thuật bằng tiếng Anh, trình bày ý tưởng và làm việc trong nhóm đa quốc gia.

Nếu được tiếp cận nghiên cứu sớm, nâng cao ngoại ngữ và tích cực tham gia các dự án, Tùng Dương tin rằng sinh viên Việt Nam hoàn toàn có thể đóng góp nhiều hơn cho các nhóm nghiên cứu quốc tế và xây dựng hồ sơ học thuật cạnh tranh toàn cầu.

Đặc biệt, Tùng Dương nhấn mạnh, môi trường học tập tại Trường Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tạo nền tảng vững chắc cho những thành công về học thuật của em.

Nam sinh chia sẻ: “Việc được học tập, trao đổi và sử dụng giáo trình, tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh ngay từ những năm đầu đại học đã giúp em hình thành thói quen tiếp cận tri thức từ các nguồn quốc tế. Song song với việc học trong giáo trình, em được đọc trực tiếp bài báo khoa học, tài liệu kỹ thuật và những công nghệ mới trên thế giới. Nhờ đó, em dần rèn được kỹ năng tự học, tự tìm kiếm tài liệu và cập nhật kiến thức mới. Đây đều là những yếu tố rất quan trọng cho nghiên cứu.

Ngoài ra, phương pháp đào tạo gắn với dự án thực tế là điểm em đánh giá rất cao. Trong nhiều học phần, sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn phải thực hiện đồ án, xây dựng sản phẩm, triển khai giải pháp và trình bày kết quả bằng tiếng Anh. Mỗi dự án yêu cầu chúng em tìm hiểu tài liệu, đề xuất phương án, báo cáo tiến độ và bảo vệ kết quả trước giảng viên và các nhóm khác.

Những buổi báo cáo và phản biện giúp em rèn luyện kỹ năng trình bày, tư duy phản biện và bảo vệ quan điểm dựa trên cơ sở khoa học, rất cần thiết khi tham gia hội nghị và làm việc trong môi trường học thuật quốc tế. Khi đi thực tập ở nước ngoài, những kỹ năng đó giúp em tự tin hơn khi trình bày ý tưởng và thích nghi nhanh với môi trường mới".

Trong tương lai, Tùng Dương sẽ tiếp tục theo đuổi con đường học tập và nghiên cứu ở bậc cao hơn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, robotics và công nghệ y sinh. Đối với Dương, quãng thời gian đại học là bước khởi đầu để tiếp cận nghiên cứu khoa học, vẫn còn cần học hỏi rất nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.

Trong quá trình tham gia các dự án nghiên cứu, từ robot, thị giác máy tính cho đến các bài toán liên quan đến dữ liệu y sinh và ứng dụng AI trong y tế, Tùng Dương chỉ ra, những hướng nghiên cứu liên ngành đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn. Chính vì vậy, em sinh viên mong muốn tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo, robot thông minh và các công nghệ hỗ trợ con người trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cũng như trong đời sống hằng ngày.

Cùng với các hoạt động nghiên cứu, Tùng Dương cũng muốn tiếp tục tham gia các cuộc thi, các dự án đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm công nghệ và các cuộc thi liên quan đến robot, thị giác máy tính, mô phỏng thực tế ảo (VR/AR) và hệ thống thông minh. Nam sinh xem đây là cơ hội để kết nối giữa nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn, đồng thời kiểm chứng khả năng ứng dụng của các ý tưởng nghiên cứu trong những bối cảnh cụ thể.

“Mặc dù chặng đường phía trước còn rất dài với vô số điều cần học hỏi, em hy vọng bản thân có thể từng bước đóng góp vào sự phát triển của các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, robotics và công nghệ y sinh. Xa hơn, em mong có thể sử dụng những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được để tham gia giải quyết các bài toán có ý nghĩa thực tiễn, đóng góp cho cộng đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ tại Việt Nam” - Tùng Dương bộc bạch.

Hồng Linh