Theo học Công nghệ sinh học tại HPU2, sinh viên được lựa chọn 4 hướng ứng dụng chuyên sâu

15/06/2026 06:39
Hồng Linh

GDVN - Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (HPU2) đào tạo ngành Công nghệ sinh học theo định hướng ứng dụng, gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của đất nước.

Công nghệ sinh học (mã ngành: 7420201) là ngành thuộc nhóm ngành Sinh học ứng dụng, lĩnh vực Khoa học sự sống. Năm 2023, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tự chủ quyết định đào tạo ngành Công nghệ sinh học. Năm nay, nhà trường dự kiến tuyển sinh 126 chỉ tiêu cho ngành học trên.

Tập trung đào tạo ngành Công nghệ sinh học theo 4 hướng ứng dụng

Chia sẻ về định hướng đào tạo ngành, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành - Trưởng khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho biết: “Ngay từ khi xây dựng chương trình, chúng tôi đã xác định Công nghệ sinh học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là ngành đào tạo theo định hướng ứng dụng, gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của đất nước. Đây cũng là tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước, trong đó công nghệ sinh học được coi là một trong ba trụ cột của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trên cơ sở đó, khoa Sinh học tập trung đào tạo theo bốn hướng ứng dụng nổi bật. Đầu tiên là công nghệ sinh học trong nông nghiệp công nghệ cao - công nghệ chọn tạo giống, nhân giống bằng nuôi cấy mô, canh tác sạch... Tiếp theo là công nghệ sinh học trong công nghệ thực phẩm - chế phẩm vi sinh, chế biến và bảo quản thực phẩm bền vững, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng... Bên cạnh đó là công nghệ sinh học trong môi trường - xử lý chất thải, vật liệu sinh học phân hủy, các giải pháp gắn với kinh tế tuần hoàn... Cuối cùng là công nghệ sinh học trong y dược - Kỹ thuật nano sinh dược, hệ vận chuyển thuốc thông minh, chiết xuất dược liệu và vật liệu y sinh, công nghệ vật liệu hướng tới các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và y học chính xác...

Đặc biệt, 4 hướng trên không phải là lựa chọn lý thuyết. Khoa Sinh học đã có kinh nghiệm chuyển giao công nghệ trong thực tế như sản xuất giống lan kim tuyến bằng nuôi cấy mô cho đơn vị thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lai Châu, chuyển giao công nghệ sản xuất màng bacterial cellulose cho doanh nghiệp dược phẩm, sản xuất hoa cúc bằng nuôi cấy mô, cùng hai quyền sở hữu trí tuệ cho hai giống lúa quốc gia... Những kết quả ấy chính là chất liệu sống động giúp sinh viên học, thực hành và phát triển năng lực nghề nghiệp".

Để người học lựa chọn đúng hướng đi trong quá trình đào tạo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành thông tin, khoa Sinh học thiết kế chương trình theo lộ trình "rộng trước, sâu sau". Những năm đầu, sinh viên được trang bị nền tảng khoa học cơ bản và các học phần cốt lõi như di truyền học, hóa sinh học, vi sinh vật học… Đây là phần chung cho cả bốn hướng. Sau khi đã có nền tảng và đã được tiếp xúc với cả bốn lĩnh vực, các em mới chọn hướng chuyên sâu phù hợp.

Cùng với đó, khoa duy trì đội ngũ giảng viên kiêm cố vấn học tập làm việc, tiếp xúc với sinh viên theo định kỳ hằng tháng để nắm bắt nguyện vọng và tư vấn hướng đi, giúp sinh viên sớm tìm thấy “điểm chạm” phù hợp với năng lực và đam mê. Song song với đó là hệ thống câu lạc bộ chuyên môn cấp khoa như Câu lạc bộ Nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, Câu lạc bộ Khởi nghiệp trẻ và sáng tạo, Câu lạc bộ Phát triển năng lực nghề nghiệp và Câu lạc bộ Ươm tạo và thương mại sản phẩm khoa học công nghệ.

Từ năm thứ ba, sinh viên chọn một trong các hướng chuyên sâu (nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thực phẩm, môi trường, y dược) và kiến tập, thực tập chuyên ngành. Khoa tổ chức định hướng nghề nghiệp định kỳ, hội thảo với doanh nghiệp đối tác (như VinEco, An Đại Dương...). Khi sinh viên được trực tiếp làm thí nghiệm/thực hành, tham gia nhóm nghiên cứu và tiếp xúc với doanh nghiệp từ sớm, các em sẽ tự nhận ra điểm mạnh và sở thích của bản thân.

315219598-1855043704857867-8036258540182881044-n-6590.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành - Trưởng khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.

Trước bối cảnh Công nghệ sinh học thay đổi liên tục, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành khẳng định: “Áp lực là có thật và chúng tôi xem đó là áp lực tích cực. Về chương trình, khoa rà soát, cập nhật định kỳ trên cơ sở tham khảo nhiều chương trình đào tạo uy tín trong nước và quốc tế, đồng thời lắng nghe nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp. Chương trình đang triển khai cho các khóa tuyển sinh từ năm 2024 cũng nằm trong tinh thần cập nhật đó.

Về đội ngũ, khoa hiện có 22 giảng viên và 6 kỹ thuật viên/chuyên viên, trong đó có 4 phó giáo sư, 14 tiến sĩ, cùng đội ngũ kỹ thuật viên chuyên trách phòng thí nghiệm. Giảng viên của khoa không chỉ dạy mà còn nghiên cứu mạnh. Khoa đã chủ trì và tham gia hơn 20 đề tài cấp Nhà nước và Nafosted, hơn 30 đề tài cấp Bộ, công bố hơn 500 công trình, trong đó trên 50 công trình trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus. Một giảng viên đang làm nghiên cứu đương nhiên cập nhật được công nghệ mới và dễ dàng truyền đạt lại cho sinh viên.

Ngoài ra, các chủ trương lớn gần đây, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đều đặt công nghệ sinh học vào nhóm công nghệ chiến lược và nhấn mạnh nhu cầu nhân lực chất lượng cao.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đón cơ hội này bằng đúng thế mạnh của mình - một nền tảng khoa học cơ bản vững chắc kết hợp định hướng ứng dụng và môi trường nghiên cứu thực chất. Khoa Sinh học có gần 50 năm truyền thống, đã đào tạo trên 5000 cử nhân và hơn 200 thạc sĩ, với tỷ lệ sinh viên có việc làm đạt 75% sau 6 tháng và trên 90% sau 12 tháng tốt nghiệp. Đó là cam kết về chất lượng mà chúng tôi mang theo khi mở ngành Công nghệ sinh học”.

Tạo lợi thế cho người học nhờ việc đào tạo gắn lý thuyết với thực hành

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành thông tin Khoa Sinh học là một trong những đơn vị có cơ sở vật chất hiện đại của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, hiện có trên 12 phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học, trong đó có những phòng trực tiếp phục vụ ngành Công nghệ sinh học như phòng thí nghiệm Di truyền học, Vi sinh vật học, Hóa sinh học, Sinh lý học thực vật, Sinh học ứng dụng… và phòng Sinh học trung tâm với nhiều thiết bị cho kết quả độ chính xác cao.

Khoa đang có 5 nhóm nghiên cứu tiềm năng đang hoạt động hiệu quả, trong đó nhóm Sinh lý học thực vật và công nghệ sinh học thực vật, nhóm Kỹ thuật y sinh dược học, nhóm Vi sinh vật học và ứng dụng. Sinh viên được khuyến khích tham gia nghiên cứu khoa học ngay từ những năm đầu; khi tham gia cùng thầy cô, các em cũng được hỗ trợ kinh phí, vật tư, hóa chất và dụng cụ. Đây là điều kiện thuận lợi để khoa đào tạo lý thuyết kết hợp với thực hành, nâng cao năng lực nghiên cứu và khả năng giải quyết các vấn đề thực tế của cho người học.

Nói về điểm mạnh của sinh viên ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, vị Trưởng khoa nhấn mạnh nền tảng khoa học cơ bản vững chắc. Công nghệ thay đổi nhanh chóng, một quy trình hôm nay có thể lạc hậu sau vài năm nhưng người có nền tảng di truyền học, hóa sinh học, vi sinh vật học… sẽ hiểu được bản chất, từ đó, dễ dàng tiếp thu công nghệ mới. Đào tạo trong môi trường sư phạm còn rèn cho sinh viên tư duy logic, khả năng tự học và năng lực trình bày, giải thích vấn đề, những phẩm chất khiến nhà tuyển dụng đánh giá cao và giúp sinh viên thích ứng tốt khi công nghệ biến đổi không ngừng.

Cùng với nền tảng đó, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc, thầy Thành chỉ ra, sinh viên cần đầu tư kỹ năng theo bốn nhóm. Đó là tiếng Anh chuyên ngành và giao tiếp nghề nghiệp để đọc tài liệu và hội nhập; năng lực số, tin sinh học và phân tích, xử lý dữ liệu do sinh học hiện đại gắn chặt với dữ liệu lớn; ý thức và kỹ năng về an toàn sinh học, thực hành phòng thí nghiệm tốt; kỹ năng mềm cùng tư duy đổi mới sáng tạo, làm việc nhóm, thuyết trình, quản lý dự án và tư duy khởi nghiệp, thái độ chủ động, thích ứng nhanh và ý thức học tập suốt đời.

Theo chia sẻ từ em Bùi Thị Thu Hằng - Sinh viên năm thứ hai ngành Công nghệ sinh học: “Ban đầu em hình dung ngành học chủ yếu là lý thuyết nhưng thực tế, em được vào phòng thí nghiệm sớm, được tự tay làm các thao tác như nuôi cấy vi sinh vật, tách chiết, quan sát tiêu bản... Được nhìn thấy kết quả thí nghiệm của chính mình khiến việc học trở nên sinh động và hấp dẫn hơn đối với em. Ngay khi là sinh viên năm nhất, em đã có thể đăng ký tham gia nhóm nghiên cứu cùng thầy cô và được hỗ trợ hóa chất, vật tư… để thực hiện. Tới năm hai, em được trải nghiệm nghề nghiệp tại doanh nghiệp. Đây là cơ hội quý giá để em áp dụng kiến thức đã được học vào thực tế”.

Em Nguyễn Châu Anh, sinh viên năm thứ nhất ngành Công nghệ sinh học cũng bày tỏ niềm yêu thích khi được học tập kết hợp với thực hành. “Em được thực hành chuyên sâu ngay năm nhất tại các phòng thí nghiệm hiện đại. Giảng viên tận tình hướng dẫn và hỗ trợ nên em nhanh chóng đạt được các năng lực cần thiết. Ngoài ra, để chinh phục khối kiến thức của ngành học, em xây dựng cho bản thân phương pháp học tập chủ động, kết hợp lý thuyết với thí nghiệm/thực hành, tham gia Câu lạc bộ Phát triển năng lực nghề nghiệp, viết CV và quản lý dự án, đồng thời chủ động hỏi giảng viên khi gặp khó khăn”.

z7857909818692-991645b35b1f41dbf7234343d568bef5-2430.jpg
Sinh viên ngành Công nghệ sinh học tham gia hội thảo khoa học. Ảnh: NTCC.

Khẳng định ý nghĩa của việc kết nối nghiên cứu, thực hành và trải nghiệm doanh nghiệp trong quá trình đào tạo ngành Công nghệ sinh học, ông Trần Hồng Cẩm - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ An Đại Dương nhấn mạnh: “Một sinh viên được làm nghiên cứu, bước vào phòng thí nghiệm thật và tiếp xúc trực tiếp doanh nghiệp ngay khi đang ngồi trên giảng đường sẽ rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa kiến thức sách vở và công việc. Khi ra trường, người học không bỡ ngỡ với máy móc, hiểu quy trình và biết cách làm việc theo nhóm và theo dự án. Đó chính là những gì nhà tuyển dụng tìm kiếm. Việc khoa Sinh học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 duy trì các nhóm nghiên cứu, hệ thống phòng thí nghiệm và quan hệ với các viện, doanh nghiệp chính một lợi thế thực sự cho các sinh viên của ngành”.

Ngoài ra, đánh giá nhu cầu nhân lực ngành Công nghệ sinh học, từ góc nhìn thực tế, ông Dương Quang Anh - Giám đốc Farm Tam Đảo, Giám đốc miền Bắc, Công ty Wineco Tam Đảo chỉ ra một số nhóm cần lực lượng lao động lớn, hứa hẹn thị trường làm việc rộng mở cho người học.

Nhóm thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao - các doanh nghiệp giống, nuôi cấy mô, canh tác sạch luôn cần kỹ thuật viên và nghiên cứu viên. Nhóm thứ hai là công nghệ thực phẩm và đồ uống lên men, nơi cần người am hiểu vi sinh và kiểm soát chất lượng. Nhóm thứ ba là môi trường và xử lý chất thải, gắn với xu hướng kinh tế tuần hoàn. Nhóm thứ tư là y dược và các phòng xét nghiệm, kiểm nghiệm. Ngoài ra, bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp đang là nơi "khát" nhân lực có nền tảng tốt trong lĩnh vực sinh học/công nghệ sinh học.

Thông tin tuyển sinh ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: Website nhà trường.

Thông tin tuyển sinh ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: Website nhà trường.

Hồng Linh