Trường ĐH hiến kế nhằm ngăn tình trạng lợi dụng việc cấp chứng chỉ giáo dục đại học để trục lợi

21/06/2026 06:22
ĐÀO HIỀN

GDVN - Bên cạnh những lợi ích mang lại cho người học và cơ sở đào tạo, nhiều chuyên gia cho rằng cần xây dựng cơ chế kiểm định, giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng, tránh tình trạng cấp chứng chỉ tràn lan.

Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học lần đầu tiên bổ sung quy định về chứng chỉ giáo dục đại học - loại chứng chỉ xác nhận kết quả hoàn thành học phần hoặc một phần chương trình đào tạo.

Quy định này tạo cơ chế để ghi nhận từng giai đoạn học tập của người học, tăng khả năng tích lũy, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập giữa các chương trình đào tạo. Đây cũng là cơ sở để người học có thể từng bước tích lũy kết quả học tập theo nhu cầu và điều kiện của bản thân, thay vì chỉ được ghi nhận khi hoàn thành toàn bộ chương trình đào tạo.

Mở rộng cơ hội học tập linh hoạt cho người học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển mạnh từ mô hình đào tạo khép kín sang hệ sinh thái học tập mở, linh hoạt và lấy người học làm trung tâm, việc Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học lần đầu tiên bổ sung quy định về chứng chỉ giáo dục đại học là bước tiến quan trọng, thể hiện tư duy đổi mới trong quản trị giáo dục đại học. Đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.

Trên thực tế, đây là cơ sở pháp lý để các cơ sở đào tạo ghi nhận kết quả học tập của người học theo từng học phần hoặc nhóm học phần, thay vì chỉ công nhận khi hoàn thành toàn bộ chương trình đào tạo.

Nếu triển khai, quy định này sẽ mở ra nhiều cơ hội hơn cho người học, đặc biệt là những người đang đi làm, người có nhu cầu nâng cao kỹ năng chuyên môn hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Họ có thể lựa chọn những học phần phù hợp với nhu cầu thực tiễn, tích lũy dần kết quả học tập và tiếp tục học tập ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời.

Chưa kể hiện nay, nhiều hệ thống giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới đã chuyển mạnh sang mô hình đào tạo theo mô-đun (modular learning), cho phép người học tích lũy dần tín chỉ, chứng chỉ hoặc vi chứng chỉ (micro-credentials) để từng bước hoàn thiện năng lực chuyên môn. Xu hướng này phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy "đào tạo một lần cho cả đời" sang "học tập liên tục trong suốt cuộc đời".

"Khi chứng chỉ giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở chuẩn đầu ra rõ ràng, khối lượng học tập được lượng hóa minh bạch và có cơ chế công nhận lẫn nhau, người học sẽ có nhiều cơ hội thiết kế lộ trình học tập phù hợp với nhu cầu riêng thay vì phải đi theo một khuôn mẫu cứng nhắc", thầy Lý nhấn mạnh.

Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng - Phó Trưởng phòng Điều hành Phòng Đào tạo, Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng, quy định về cấp chứng chỉ giáo dục đại học trong Dự thảo Thông tư sẽ mở ra nhiều cơ hội cho cả người học và cơ sở đào tạo.

Đối với người học, chứng chỉ giúp ghi nhận kết quả học tập ở từng giai đoạn, đặc biệt trong trường hợp người học chưa thể hoàn thành toàn bộ chương trình đào tạo. Đây cũng là cơ sở để người học thuận lợi hơn khi tham gia thị trường lao động, chuyển trường hoặc tiếp tục học tập theo các hình thức liên thông, nâng cao trình độ.

Đối với các cơ sở đào tạo, việc cấp chứng chỉ giáo dục đại học không chỉ góp phần tăng cường kết nối với doanh nghiệp mà còn tạo động lực đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt hơn. Người học có thể tích lũy chứng chỉ theo từng mô-đun, xây dựng lộ trình học tập phù hợp với nhu cầu cá nhân và kết hợp nhiều hình thức học tập khác nhau.

Trước băn khoăn cho rằng việc cấp chứng chỉ cho từng học phần có thể làm giảm giá trị của văn bằng đại học, thầy Tùng nhìn nhận đây là lo ngại có cơ sở. Tuy nhiên, quy định mới không làm giảm sức nặng của văn bằng mà đang góp phần định nghĩa lại giá trị của văn bằng theo hướng thực chất hơn.

"Nếu xem văn bằng đại học là đích đến để công nhận năng lực của người học thì mỗi chứng chỉ là một cột mốc trên hành trình đó. Người học hoàn thành đến đâu sẽ được ghi nhận đến đó, đồng thời có thêm cơ hội được thị trường lao động tiếp nhận và đánh giá dựa trên năng lực thực tế", thầy Tùng chia sẻ.

Bên cạnh đó, thầy Tùng cũng nhấn mạnh, chứng chỉ giáo dục đại học không thay thế và cũng không làm giảm giá trị của văn bằng đại học. Ngược lại, đây là công cụ bổ trợ giúp hệ thống giáo dục trở nên linh hoạt, minh bạch hơn, đồng thời tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong bối cảnh hiện nay.

Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng - Phó Trưởng phòng Điều hành Phòng Đào tạo, Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.
Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng - Phó Trưởng phòng Điều hành Phòng Đào tạo, Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Liên quan đến khả năng công nhận và chuyển đổi chứng chỉ giữa các cơ sở đào tạo, Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng cho rằng để cơ chế này vận hành hiệu quả cần hội đủ ba yếu tố gồm: khung pháp lý thống nhất, hạ tầng công nghệ minh bạch và cơ chế giám sát chặt chẽ.

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần quy định rõ chuẩn đầu ra, khối lượng kiến thức tối thiểu đối với từng cụm học phần, đồng thời giới hạn tỷ lệ tín chỉ được chuyển đổi nhằm bảo đảm người học vẫn phải hoàn thành các học phần cốt lõi tại cơ sở đào tạo cấp bằng.

Bên cạnh đó, việc xây dựng ngân hàng chứng chỉ số quốc gia sẽ tạo nền tảng cho việc định danh, lưu trữ và xác thực chứng chỉ một cách tập trung, giúp các cơ sở đào tạo dễ dàng kiểm tra, đối chiếu thông tin, đồng thời hạn chế nguy cơ giả mạo hoặc gian lận trong quá trình công nhận kết quả học tập.

Đồng thời, hoạt động cấp chứng chỉ cũng cần được đưa vào nội dung kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và kiểm định chương trình đào tạo, đi kèm với các chế tài đủ mạnh đối với những trường hợp cố tình hạ chuẩn hoặc cấp chứng chỉ không đúng quy định.

Cần khung pháp lý và cơ chế giám sát để bảo đảm giá trị của chứng chỉ

Trong khi đó, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, quy định về chứng chỉ giáo dục đại học sẽ góp phần gia tăng tính linh hoạt của hệ thống đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho người học tích lũy, chuyển đổi và công nhận kết quả học tập trong suốt quá trình học tập và phát triển nghề nghiệp.

Trên thực tế, chứng chỉ giáo dục đại học cho phép người học tiếp cận các học phần, mô-đun hoặc nhóm năng lực chuyên môn cụ thể nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong thời gian ngắn hơn. Quy định này đặc biệt phù hợp với người đang đi làm, người có nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp hoặc muốn cập nhật kiến thức trong các lĩnh vực mới.

“Một sinh viên theo học ngành Công nghệ thông tin đến năm thứ hai nhưng nhận thấy ngành học không còn phù hợp với định hướng nghề nghiệp của bản thân. Sau một thời gian đi làm, nếu người học muốn chuyển sang ngành Điện tử, các kết quả học tập đã tích lũy trước đó có thể được xem xét công nhận thông qua hệ thống chứng chỉ giáo dục đại học. Nhờ đó, người học chỉ cần bổ sung các học phần chuyên ngành còn thiếu thay vì phải học lại từ đầu”, thầy Sơn lấy ví dụ.

Theo Thạc sĩ Sơn, khi các học phần được thiết kế dựa trên chuẩn đầu ra rõ ràng và được cấp chứng chỉ độc lập, các cơ sở giáo dục đại học sẽ có điều kiện tổ chức chương trình đào tạo theo hướng mô-đun hóa. Người học có thể chủ động lựa chọn những nội dung phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp, từ đó xây dựng lộ trình học tập linh hoạt và mang tính cá nhân hóa cao hơn.

Bên cạnh đó, nếu có các quy định thống nhất về khối lượng học tập, chuẩn đầu ra và phương thức đánh giá, chứng chỉ giáo dục đại học hoàn toàn có thể trở thành cơ sở để công nhận, tích lũy và chuyển đổi kết quả học tập giữa các chương trình đào tạo, giữa các ngành học, thậm chí giữa các cơ sở giáo dục đại học.

Điều này không chỉ giúp giảm sự trùng lặp trong quá trình học tập, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người học mà còn thúc đẩy khả năng liên thông giữa các bậc học, các chương trình đào tạo và các loại hình đào tạo khác nhau.

Để chứng chỉ giáo dục đại học thực sự có giá trị và tránh tình trạng cấp phát tràn lan, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn cho rằng cần bảo đảm một số điều kiện quan trọng trong quá trình triển khai.

Trước hết, mỗi chứng chỉ phải gắn với chuẩn đầu ra cụ thể, có thể đo lường được và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Sau khi hoàn thành chương trình học, người học cần chứng minh được những năng lực, kỹ năng hoặc kiến thức đã đạt được theo yêu cầu của chứng chỉ.

Bên cạnh đó, nội dung đào tạo, khối lượng học tập, phương thức kiểm tra, đánh giá và điều kiện cấp chứng chỉ cần được công khai, minh bạch, đồng thời tuân thủ các quy định về bảo đảm chất lượng tương tự như đối với các chương trình đào tạo chính quy.

Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu số đối với chứng chỉ giáo dục đại học, cho phép xác thực thông tin, truy xuất nguồn gốc và hạn chế nguy cơ làm giả. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao độ tin cậy, khả năng công nhận và giá trị sử dụng của chứng chỉ trong thực tiễn.

Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.
Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Trong khi đó, Tiến sĩ Trần Đình Lý cho rằng, bất kỳ chính sách mới nào cũng chỉ có thể tạo ra giá trị thực chất khi được triển khai trên nền tảng quản lý minh bạch và kiểm soát chất lượng hiệu quả. Nếu không được quản lý tốt, chứng chỉ giáo dục đại học có thể bị thương mại hóa hoặc bị hiểu đơn thuần như một loại giấy xác nhận tham gia khóa học, từ đó làm giảm niềm tin của xã hội đối với hệ thống giáo dục đại học.

Để hạn chế những rủi ro này, trước hết cần quy định rõ các tiêu chuẩn tối thiểu đối với từng loại chứng chỉ, bao gồm mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, phương thức đánh giá cũng như những năng lực mà người học đạt được sau khi hoàn thành.

Bên cạnh đó, chứng chỉ cần được gắn với hệ thống tín chỉ và các chuẩn chất lượng của chương trình đào tạo. Mỗi chứng chỉ phải phản ánh thực chất kiến thức, kỹ năng và năng lực nghề nghiệp của người học, thay vì chỉ là minh chứng cho việc tham gia một khóa học.

Theo thầy Lý, việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số thống nhất để quản lý, xác thực và tra cứu chứng chỉ là rất cần thiết. Đây là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, hạn chế gian lận, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, nhà tuyển dụng và các tổ chức nghề nghiệp dễ dàng kiểm chứng năng lực của người học.

Ngoài ra, công tác kiểm định chất lượng, thanh tra và giám sát việc triển khai tại các cơ sở đào tạo cần được tăng cường nhằm bảo đảm tính thống nhất, độ tin cậy và uy tín của hệ thống chứng chỉ giáo dục đại học.

"Mục tiêu cuối cùng không phải là cấp được thật nhiều chứng chỉ mà là tạo ra những chứng chỉ có giá trị thực, được xã hội, doanh nghiệp và thị trường lao động tin cậy, công nhận và sử dụng. Khi đó, chứng chỉ giáo dục đại học sẽ trở thành công cụ hữu hiệu để thúc đẩy học tập suốt đời, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần xây dựng nền giáo dục đại học hiện đại, mở và hội nhập quốc tế", thầy Lý bày tỏ.

z7949634636177-3904ebdd1a9e1a08cc3ca7b722d6c2dc-9221.jpg
Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số thống nhất để quản lý, xác thực và tra cứu chứng chỉ là rất cần thiết. Ảnh minh họa: NVCC

Còn theo quan điểm Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tùng, nguy cơ một số cơ sở đào tạo lợi dụng việc cấp chứng chỉ giáo dục đại học để trục lợi là hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, rủi ro này có thể được kiểm soát thông qua sự sàng lọc của thị trường lao động và các cơ chế quản lý của Nhà nước.

Theo thầy Tùng, hiện nay các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đánh giá năng lực thực tế của ứng viên thay vì chỉ dựa vào hồ sơ, văn bằng hay chứng chỉ. Vì vậy, nếu chứng chỉ không phản ánh đúng năng lực của người học, uy tín của cơ sở đào tạo cấp chứng chỉ sẽ sớm bị ảnh hưởng.

Ở góc độ quản lý nhà nước, vị chuyên gia cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng đối với việc cấp chứng chỉ giáo dục đại học, trong đó có thể quy định về giới hạn tích lũy tín chỉ, tiêu chuẩn chất lượng cũng như đưa hoạt động cấp chứng chỉ vào diện kiểm định bắt buộc.

Đồng thời, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo và giá trị thực của chứng chỉ.

Để nâng cao tính minh bạch và khả năng kiểm chứng, chứng chỉ giáo dục đại học cần được định danh bằng công nghệ số và tích hợp vào hệ thống dữ liệu tập trung. Mỗi chứng chỉ có thể được gắn mã QR hoặc các công nghệ xác thực phù hợp, cho phép doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và các bên liên quan dễ dàng tra cứu thông tin về người học, kết quả học tập cũng như chương trình đào tạo đã hoàn thành, qua đó hạn chế nguy cơ làm giả hoặc gian lận.

Bên cạnh đó, chứng chỉ nên được gắn với hồ sơ năng lực của người học thay vì chỉ thể hiện thông tin về kết quả hoàn thành học phần. Khi cần, nhà tuyển dụng có thể tiếp cận thêm các minh chứng về kỹ năng, sản phẩm hoặc dự án thực tế mà người học đã thực hiện trong quá trình học tập.

Cuối cùng, quy trình đánh giá và cấp chứng chỉ cần có sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp. Điều này không chỉ góp phần nâng cao tính khách quan, minh bạch mà còn giúp bảo đảm chứng chỉ phản ánh đúng năng lực của người học và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

ĐÀO HIỀN