Kết hợp đáp án cụ thể và rubric chấm thi môn Ngữ văn: Bước chuyển quan trọng để phát triển năng lực

20/06/2026 11:26
Nguyễn Phước Bảo Khôi - Giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TPHCM

GDVN -Có thể khẳng định rằng hướng dẫn chấm của đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2026 đã bước đầu phát huy được những ưu điểm quan trọng của mô hình kết hợp đáp án cụ thể và rubric.

Tối 19/6, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố đáp án các môn thi của Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 trong đó có đáp án môn thi Ngữ văn. Năm nay là năm đầu tiên chấm thi Ngữ văn theo phương pháp kết hợp đáp án cụ thể rubric (hệ thống các tiêu chí đánh giá) thay cho cách đếm ý cho điểm.

Ưu điểm của việc kết hợp đáp án cụ thể và rubric trong hướng dẫn chấm thi môn Ngữ văn

Việc kết hợp đáp án cụ thể và rubric trong hướng dẫn chấm thi môn Ngữ văn là một hướng đi cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Đáp án cụ thể giúp xác lập những yêu cầu cơ bản của bài làm; rubric giúp mô tả các mức độ đạt được của học sinh ở nhiều phương diện. Sự kết hợp này tạo nên một cơ chế chấm điểm đạt được nhiều tiêu chí: vừa có độ mở, vừa bảo đảm tính thống nhất tương đối giữa các giám khảo, vừa tôn trọng đặc thù sáng tạo của môn Văn.

1781868753666.jpg
Hướng dẫn chấm điểm môn Ngữ văn kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2026 theo phương pháp Rubric.

Trước hết, mô hình này góp phần khắc phục tính đóng khung của đáp án truyền thống. Nếu chỉ dựa vào đáp án, việc chấm bài dễ bị hiểu thành đối chiếu ý hoặc đếm ý. Khi có rubric, bài làm sẽ được đánh giá ở chất lượng triển khai: mức độ đúng trọng tâm, khả năng lập luận, sử dụng dẫn chứng, phân tích, diễn đạt và tổ chức văn bản. Nhờ đó, những bài viết có cách triển khai khác đáp án nhưng hợp lí, có căn cứ và thuyết phục vẫn được ghi nhận.

Bên cạnh đó, đáp án kết hợp rubric phù hợp với định hướng đánh giá năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của môn Ngữ văn. Năng lực Ngữ văn không chỉ thể hiện ở việc nhớ kiến thức, mà còn ở khả năng đọc hiểu, lí giải, phản hồi, vận dụng tri thức vào tình huống mới. Rubric giúp cụ thể hóa những biểu hiện năng lực ấy thành các tiêu chí có thể quan sát và chấm điểm.

Thứ ba, cách làm này khẳng định tính mở của đề thi môn Ngữ văn. Đề mở đã tạo không gian để học sinh trình bày cách hiểu, quan điểm và hướng triển khai riêng trên cơ sở yêu cầu của đề. Vì thế, đáp án giữ vai trò định hướng chuẩn; rubric giúp phân tầng chất lượng bài làm.

Cuối cùng, đây là bước đệm quan trọng cho sự xuất hiện rõ hơn của các dạng đề mở trong đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn. Khi đề thi ngày càng gắn với tình huống mới trong thực tiễn đời sống, hướng dẫn chấm cũng cần linh hoạt hơn. Do vậy, cần nhắc lại việc đáp án cụ thể bảo đảm chuẩn nội dung còn rubric bảo đảm khả năng đánh giá năng lực một cách công bằng, linh hoạt và có kiểm soát.

Phát huy những ưu điểm trên trong hướng dẫn chấm của đề thi tốt nghiệp THPT năm 2026

Những ưu điểm của mô hình kết hợp đáp án cụ thể và rubric được phát huy khá rõ trong hướng dẫn chấm phần viết của đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2026. Điểm đáng ghi nhận không chỉ nằm ở việc hướng dẫn chấm đã cố gắng giải quyết một vấn đề cốt lõi của đánh giá tự luận môn Ngữ văn: làm thế nào để vừa giữ được chuẩn đánh giá, vừa không triệt tiêu tính mở, tính cá thể hóa trong bài làm của học sinh. Nhìn từ góc độ kiểm tra đánh giá, đây là một nỗ lực đáng chú ý nhằm tăng độ tin cậy khi chấm, đồng thời vẫn bảo đảm độ giá trị của bài thi theo định hướng phát triển năng lực. Theo đó:

gdvn-thi-tot-nghiep-ngu-van-10.jpg
Ảnh minh họa: Lã Tiến

u nghị luận xã hội: Vấn đề “Làm thế nào để có những ‘Steve Jobs Việt Nam’?” được định hướng bằng một khung tư duy tương đối rộng: phía cá nhân và phía xã hội chứ không xử lí theo lối áp đặt một hệ thống luận điểm duy nhất. Trong đó, việc nhấn mạnh các bình diện nhận thức, thái độ và hành động là hợp lí, vì ba bình diện này phản ánh quá trình chuyển hóa từ tư duy bên trong đến năng lực hành động bên ngoài của người trẻ. Học sinh có thể triển khai nhiều ý khác nhau, sử dụng những dẫn chứng khác nhau, thậm chí có thể lựa chọn giọng điệu lập luận khác nhau, nhưng vẫn nằm trong một cấu trúc đánh giá có thể kiểm soát. Đây là điểm tích cực, bởi nó tránh được hai cực đoan: hoặc biến bài nghị luận xã hội thành bài học thuộc dàn ý, hoặc để học sinh viết tùy hứng, thiếu chuẩn mực.

Đáng chú ý hơn, đáp án không chỉ đặt trọng tâm vào nỗ lực cá nhân mà còn mở sang điều kiện xã hội: giáo dục, chính sách, môi trường nuôi dưỡng sáng tạo. Cách định hướng này làm tăng chiều sâu của yêu cầu đề và thể hiện rõ mức độ phân hóa của đề thi. Từ những yêu cầu cơ bản đối với cá nhân đến mối quan hệ giữa khát vọng cá nhân với nền giáo dục, chính sách phát triển nhân tài và văn hóa đổi mới sáng tạo đã chứng minh đáp án tạo điều kiện để học sinh bộc lộ năng lực tư duy nhiều chiều chứ không đóng lại ở một vài ý tưởng quen thuộc có phần sáo rỗng.

Trên cơ sở đáp án mở ấy, rubric cho câu nghị luận xã hội có ý nghĩa quan trọng. Việc đánh giá bài làm theo các phương diện nội dung, kĩ năng phân tích – lập luận, hình thức và ngôn ngữ cho thấy bài viết được đánh giá bằng chất lượng triển khai các ý chứ không chỉ được chấm bằng việc nêu được bao nhiêu ý. Đây là điểm phù hợp với đánh giá năng lực: người học phải xác định đúng vấn đề, tổ chức được lập luận, diễn đạt rõ ràng và tạo lập được một đoạn văn hoàn chỉnh. Nói cách khác, rubric giúp chuyển từ “chấm theo đáp án” sang “chấm năng lực thực hiện nhiệm vụ viết”.

Ở câu nghị luận văn học: Ở câu này, điểm tích cực của đáp án là đã định hướng học sinh đi từ các yếu tố nghệ thuật đến các tầng nghĩa của văn bản. Với bài thơ Những chiếc lá, việc chú ý đến hình tượng trung tâm, mạch cảm xúc, giọng điệu, sự vận động của hình ảnh lá từ rơi rụng đến hóa thân tận hiến, từ lạnh buồn đến ấm áp là những căn cứ quan trọng để học sinh lí giải ý nghĩa của tác phẩm.

Cách thiết kế này có giá trị chuyên môn rõ rệt. Nó buộc học sinh khi phân tích phải bám sát vào căn cứ văn bản, nắm vững đặc trưng thể loại kĩ năng phân tích thơ. Đồng thời, đáp án vẫn giữ được độ mở cần thiết khi không tuyệt đối hóa một cách hiểu duy nhất. Những tầng nghĩa về sự sống, sự cống hiến, sự hóa thân âm thầm của những chiếc lá là những hướng tiếp cận quan trọng, nhưng không phải giới hạn cuối cùng của bài thơ.

Nếu học sinh phát hiện thêm những ý nghĩa khác (chẳng hạn tình yêu thương, sự vị tha, khát vọng sống có ích…), các em vẫn có thể được ghi nhận nếu cách hiểu ấy được chứng minh bằng hình ảnh, chi tiết và mạch cảm xúc của văn bản. Đây chính là điểm then chốt của một hướng dẫn chấm tốt: mở rộng/ khuyến khích khả năng kiến tạo nghĩa nhưng không cho phép suy diễn tùy tiện.

Rubric của câu nghị luận văn học vì vậy có vai trò làm rõ các mức độ đạt được của năng lực đọc – viết. Một bài làm tốt không chỉ cần hiểu bài thơ, mà còn phải biết phân tích hình thức nghệ thuật, lí giải ý nghĩa, tổ chức luận điểm, sử dụng dẫn chứng và diễn đạt bằng ngôn ngữ nghị luận văn học phù hợp. Khi các phương diện ấy được đưa vào tiêu chí đánh giá, việc chấm bài có cơ sở vững hơn, tránh tình trạng chỉ cho điểm theo ấn tượng chung. Đồng thời, rubric cũng giúp phân biệt rõ hơn giữa bài viết nắm được ý chính nhưng còn sơ sài với bài viết có khả năng phân tích sâu, lập luận chặt chẽ và cảm thụ tinh tế.

Có thể khẳng định rằng hướng dẫn chấm của đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2026 đã bước đầu phát huy được những ưu điểm quan trọng của mô hình kết hợp đáp án cụ thể và rubric. Đáp án tạo ra khung nội dung có định hướng; rubric tạo ra thang đo chất lượng tương đối rõ. Sự kết hợp ấy giúp đề thi mở mà không mơ hồ, giúp bài làm đa dạng mà vẫn có chuẩn đánh giá, giúp giám khảo có căn cứ chấm điểm nhưng vẫn có không gian ghi nhận những cách hiểu thuyết phục và cách viết sáng tạo.

Đây là một bước chuyển đáng khích lệ trong tiến trình đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo hướng thực chất hơn, công bằng hơn và ngày một gắn chặt với mục tiêu phát triển năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn.

Nguyễn Phước Bảo Khôi - Giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TPHCM