Muốn thu hút, giữ chân chuyên gia quốc tế: Cần có hệ sinh thái đủ hấp dẫn

07/07/2026 06:20
Đình Nam

GDVN - Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học, cần xây dựng được một hệ sinh thái đủ hấp dẫn, thay đổi cách quản trị để các chuyên gia và nhà khoa học quốc tế có thể gắn bó lâu dài, phát huy tối đa năng lực tại Việt Nam.

Trong bối cảnh Chính phủ đã ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam, việc huy động và phát huy nguồn lực trí thức Việt Nam ở nước ngoài là một câu chuyện lớn, có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng hàng đầu.

Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học, cần xây dựng được một hệ sinh thái đủ hấp dẫn, thay đổi cách quản trị để nhân tài có thể gắn bó lâu dài và phát huy tối đa năng lực.

Có nơi vẫn e ngại sử dụng nhân tài, cần thay đổi mô hình quản trị

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, mặc dù những năm gần đây hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, trong đó có Đại học Bách khoa Hà Nội, đã có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, song vẫn còn tồn tại không ít rào cản khiến sức hấp dẫn đối với các chuyên gia quốc tế cũng như người Việt Nam ở nước ngoài chưa thực sự tương xứng với tiềm năng.

Theo thầy Yêm, trước hết, cơ chế tài chính và chính sách đãi ngộ hiện nay vẫn chưa đủ sức cạnh tranh so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Mức thu nhập dành cho đội ngũ chuyên gia còn có khoảng cách đáng kể so với các trung tâm nghiên cứu, đại học hàng đầu, trong khi các gói hỗ trợ dài hạn về lương, điều kiện làm việc và tài trợ nghiên cứu chưa thực sự đạt chuẩn quốc tế.

Bên cạnh đó, các thủ tục hành chính liên quan đến quản lý và triển khai hoạt động khoa học công nghệ vẫn còn tương đối phức tạp. Nhiều quy trình, đặc biệt là việc giải ngân kinh phí cho các đề tài, dự án nghiên cứu, còn mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tính linh hoạt và hiệu quả của hoạt động học thuật.

thay-yem-bach-khoa.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Về hạ tầng nghiên cứu, mặc dù đã có những cơ sở được đầu tư hiện đại, song sự phát triển giữa các đơn vị chưa đồng đều; ở nhiều nơi, trang thiết bị và phòng thí nghiệm vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, nguồn kinh phí nghiên cứu còn phân tán, trong khi cơ chế cấp phát và sử dụng kinh phí vẫn tồn tại những thủ tục chưa thực sự thuận lợi.

Một thách thức khác là mức độ quốc tế hóa của môi trường học thuật. Số lượng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại nhiều cơ sở giáo dục đại học còn hạn chế; văn hóa học thuật theo chuẩn quốc tế như công bố khoa học, trao đổi học thuật, chia sẻ và minh bạch dữ liệu nghiên cứu chưa phát triển đồng đều. Mạng lưới hợp tác quốc tế ở không ít trường đại học cũng chưa đủ sâu rộng để tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu.

Ngoài yếu tố nghề nghiệp, hệ sinh thái hỗ trợ đời sống dành cho chuyên gia vẫn cần được hoàn thiện hơn. Các dịch vụ đi kèm như nhà ở chất lượng cao, trường học quốc tế cho con em hay các tiện ích phục vụ sinh hoạt chưa thực sự đầy đủ, trong khi đây lại là những yếu tố quan trọng tác động đến quyết định gắn bó lâu dài của nhân tài quốc tế.

Cùng với đó, cơ chế đánh giá và sử dụng nguồn nhân lực tại một số cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa hoàn toàn dựa trên các tiêu chí định lượng và sản phẩm khoa học cụ thể, mà đôi khi còn mang tính hành chính hoặc hình thức. Sự thiếu linh hoạt trong cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ cũng khiến việc thu hút những nhân tài đặc biệt gặp nhiều khó khăn.

“Đáng chú ý, một vấn đề mang tính văn hóa tổ chức vẫn còn hiện hữu ở một số đơn vị, đó là tinh thần trọng dụng nhân tài chưa thực sự được đề cao. Trên thực tế, vẫn có những nơi chưa sẵn sàng tiếp nhận hoặc tạo điều kiện cho những cá nhân xuất sắc, kể cả trong nước và quốc tế, bởi tâm lý e ngại sự khác biệt về năng lực, vị thế chuyên môn hay thu nhập. Đây là một rào cản vô hình nhưng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thu hút nhân lực chất lượng cao.

Những hạn chế nêu trên không phải là bức tranh chung của toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, nhưng đang tạo ra các “điểm nghẽn hệ thống”, làm suy giảm sức cạnh tranh trong cuộc đua thu hút nhân tài toàn cầu.

Để khắc phục, cần có những cải cách đồng bộ về cơ chế tài chính, quản trị đại học, môi trường học thuật, hạ tầng nghiên cứu cũng như các điều kiện sống và làm việc, qua đó từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và xây dựng một hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn đối với các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu trên thế giới”, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội bày tỏ.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) nhận định, việc thu hút các chuyên gia xuất sắc từ bên ngoài tham gia vào môi trường đại học chắc chắn sẽ tạo ra những áp lực cạnh tranh nhất định đối với đội ngũ hiện hữu. Tuy nhiên, nếu được quản trị đúng cách, đây không phải là thách thức mà sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhà trường.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng cho rằng, các cơ sở giáo dục đại học cần chuyển dần từ mô hình quản lý dựa trên thâm niên sang quản trị dựa trên năng lực và mức độ đóng góp. Những cá nhân có năng lực vượt trội cần được tạo điều kiện để phát huy sáng tạo, đồng thời được kết nối chặt chẽ với đội ngũ hiện có nhằm tạo ra sự cộng hưởng về chuyên môn và học thuật.

Để làm được điều đó, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng cơ chế đánh giá, phân công nhiệm vụ và phân bổ quyền lợi một cách minh bạch.

577003088-1403881495079774-6919423700372439742-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: website nhà trường

Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng), các chuyên gia được thu hút từ bên ngoài không nên bị xem là những người thay thế nhân sự hiện hữu, mà cần được nhìn nhận như những “hạt nhân phát triển”, góp phần nâng cao năng lực của các nhóm nghiên cứu, cải tiến chương trình đào tạo và mở rộng hợp tác quốc tế.

Thầy Hùng cũng nhấn mạnh rằng xây dựng văn hóa hợp tác là yếu tố then chốt đối với sự phát triển bền vững của một trường đại học. Theo đó, mỗi chuyên gia được mời về cần gắn với một nhóm nghiên cứu, một khoa chuyên môn, một phòng thí nghiệm hoặc một nhiệm vụ chiến lược cụ thể.

“Khi lợi ích được chia sẻ hài hòa, trách nhiệm được xác định rõ ràng và thành quả được ghi nhận công bằng, tâm lý e ngại trước những nhân tố mới sẽ dần được thay thế bằng tinh thần học hỏi, hợp tác và cùng phát triển, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu của nhà trường”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng chia sẻ.

Cần tạo dựng môi trường và cơ chế phù hợp để chuyên gia phát huy tối đa chuyên môn

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc cần có nguồn nhân lực chất lượng là yêu cầu cấp thiết. Từ đó, công tác thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học từ nước ngoài khi trở về có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng nhận định, để các chuyên gia, nhà khoa học từ nước ngoài khi trở về có thể nhanh chóng phát huy năng lực và tạo ra giá trị thực chất, các cơ sở giáo dục đại học cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ tư duy “mời chuyên gia về giảng dạy” sang tư duy “mời chuyên gia cùng kiến tạo giá trị”.

Điều quan trọng không chỉ là thu hút được người tài, mà còn phải tạo dựng môi trường và cơ chế phù hợp để họ phát huy tối đa thế mạnh chuyên môn, kinh nghiệm quốc tế và khả năng kết nối nguồn lực.

Theo thầy Hùng, trước hết cần xây dựng cơ chế giao nhiệm vụ gắn với các sản phẩm đầu ra cụ thể thay vì chỉ đánh giá thông qua số giờ giảng dạy hay số lượng bài báo khoa học.

Các trường có thể đặt hàng những mục tiêu mang tính chiến lược như xây dựng phòng thí nghiệm mới, hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển chương trình đào tạo quốc tế, tạo ra bằng sáng chế, sản phẩm thử nghiệm, dự án chuyển giao công nghệ hoặc các hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp. Đây mới là những thước đo phản ánh rõ nét đóng góp và giá trị mà các chuyên gia mang lại.

Bên cạnh đó, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) cho rằng cần có cơ chế tài chính linh hoạt hơn để thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng. Các chuyên gia cần được tiếp cận nguồn kinh phí khởi động phù hợp, đồng thời có quyền chủ động trong việc sử dụng ngân sách nghiên cứu, đề xuất đầu tư trang thiết bị, tuyển chọn cộng sự và triển khai các hoạt động hợp tác với doanh nghiệp. Sự linh hoạt này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa ý tưởng nghiên cứu và khả năng ứng dụng vào thực tiễn.

Đặc biệt, thầy Hùng nhấn mạnh vai trò của mô hình đồng chủ trì giữa nhà khoa học, nhà trường và doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo ứng dụng, sản xuất thông minh, tự động hóa, công nghệ giáo dục, năng lượng xanh hay chuyển đổi số được xem là những hướng ưu tiên, nơi các chuyên gia có thể tạo ra các sản phẩm và giải pháp có giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và thị trường.

Cũng theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lê Hùng, một yếu tố quan trọng khác là cần xây dựng cơ chế đánh giá riêng đối với đội ngũ chuyên gia trình độ cao. Việc đánh giá không nên chỉ dựa trên các tiêu chí hành chính thông thường mà cần xem xét toàn diện các đóng góp về học thuật, khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu, năng lực huy động nguồn lực, mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế cũng như tác động thực tiễn mà họ tạo ra.

481129231-1021509100005186-8269579815354737493-n.jpg
Chuyên gia quốc tế tham dự hội thảo chuyên đề tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm khẳng định, bên cạnh việc xây dựng môi trường học thuật chuyên nghiệp, hiện đại và bảo đảm các điều kiện nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ hơn để nâng cao sức hấp dẫn đối với các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài cũng như người Việt Nam ở nước ngoài.

Theo thầy Yêm, đầu tiên, cần xây dựng chính sách nhà ở linh hoạt và có tính cạnh tranh cao. Các cơ sở giáo dục đại học có thể hỗ trợ chi phí thuê nhà hoặc bố trí căn hộ phù hợp gần nơi làm việc để tạo thuận lợi cho chuyên gia trong quá trình công tác. Về lâu dài, cần nghiên cứu phát triển các khu nhà ở dành riêng cho chuyên gia, nhà khoa học và giảng viên quốc tế với tiêu chuẩn tiện nghi cao, đồng thời áp dụng cơ chế hỗ trợ linh hoạt dựa trên vị trí công tác, năng lực và mức độ đóng góp của từng cá nhân.

Ngoài ra, việc hỗ trợ môi trường sống cho gia đình chuyên gia cũng có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định gắn bó lâu dài của họ. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm, các trường cần tăng cường kết nối với hệ thống trường học quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con em chuyên gia học tập; đồng thời hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao và xây dựng chính sách bảo hiểm sức khỏe, phúc lợi dành cho cả gia đình.

Một giải pháp khác được thầy nhấn mạnh là triển khai hiệu quả mô hình dịch vụ hành chính "một cửa" dành cho chuyên gia quốc tế. Theo đó, cần có một đầu mối chuyên trách hỗ trợ các thủ tục liên quan như visa, giấy phép lao động, đăng ký tạm trú, cư trú và các vấn đề phát sinh trong đời sống hằng ngày. Điều này sẽ giúp giảm đáng kể những rào cản ban đầu, tạo điều kiện để các chuyên gia nhanh chóng hòa nhập và tập trung cho công việc chuyên môn.

Ngoài các yếu tố vật chất, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng việc hỗ trợ hội nhập văn hóa - xã hội cũng cần được quan tâm đúng mức. Các cơ sở giáo dục đại học nên tổ chức những chương trình định hướng giúp chuyên gia hiểu rõ hơn về môi trường làm việc, văn hóa và đời sống tại Việt Nam; đồng thời phát triển cộng đồng học thuật quốc tế để tạo mạng lưới kết nối, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau. Trong trường hợp cần thiết, các chương trình hỗ trợ tiếng Việt cơ bản cũng sẽ góp phần giúp chuyên gia thích nghi thuận lợi hơn với môi trường mới.

Bên cạnh đó, ngoài chính sách tiền lương, cần xây dựng các cơ chế hỗ trợ tài chính bổ sung phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm, các khoản phụ cấp sinh hoạt, hỗ trợ chi phí di chuyển quốc tế, chi phí ban đầu khi đến Việt Nam hay những chế độ hỗ trợ đặc thù khác cần được thiết kế linh hoạt theo từng trường hợp cụ thể.

Đặc biệt, song hành với chính sách lương thưởng hấp dẫn, các cơ chế ưu đãi về thuế cũng có thể trở thành một đòn bẩy quan trọng trong việc thu hút và giữ chân nhân tài quốc tế. Tuy nhiên, việc thiết kế các chính sách này cần được cân nhắc thận trọng để bảo đảm sự hài hòa với hệ thống chính sách hiện hành trong nước, tránh tạo ra khoảng cách quá lớn về chế độ đãi ngộ giữa chuyên gia quốc tế với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong nước, từ đó phát sinh tâm lý so sánh hoặc cảm giác thiếu công bằng.

Đình Nam