Trường Đại học An Giang được thành lập theo Quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm An Giang. Từ ngày 13/8/2019, trường trở thành trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 1007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Theo thông tin trên website nhà trường, năm 2026, Trường Đại học An Giang dự kiến tuyển sinh 43 ngành. Trong đó, có 3 ngành dự kiến mở, cụ thể như sau:
Để cung cấp thông tin cho phụ huynh và học sinh về các điều kiện mở ngành đào tạo ngành Khoa học dữ liệu, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã tiến hành khảo sát đề án mở ngành được đăng tải trên website Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); đối chiếu với Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Đơn vị xác định quy mô tuyển sinh và học phí dựa trên cơ sở nào?
Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) xác định quy mô tuyển sinh 30 sinh viên mỗi khóa trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa năng lực đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động.
Về đội ngũ giảng viên, nhà trường hiện có đội ngũ giảng viên cơ hữu đáp ứng các điều kiện mở ngành theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đủ khả năng giảng dạy, hướng dẫn học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện các hoạt động thực hành, thực tập cho người học.
Về cơ sở vật chất, hệ thống phòng máy tính, hạ tầng công nghệ thông tin, thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu học tập và nghiên cứu hiện có của nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo với quy mô 30 sinh viên mỗi khóa, đồng thời bảo đảm chất lượng đào tạo theo chuẩn đầu ra đã công bố.
Về nhu cầu xã hội, kết quả dự báo cho thấy nhu cầu tuyển dụng nhân lực Khoa học dữ liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 1.250-1.950 vị trí mỗi năm, cao hơn nhiều so với quy mô đào tạo dự kiến của nhà trường. Do đó, chỉ tiêu 30 sinh viên/năm không tạo áp lực dư thừa nguồn cung mà vẫn bảo đảm khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.
Quy mô tuyển sinh vừa phải trong giai đoạn đầu còn giúp nhà trường tập trung nguồn lực, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và hoàn thiện chương trình theo nhu cầu thực tiễn. Khi nhu cầu xã hội tiếp tục gia tăng và các điều kiện bảo đảm chất lượng được mở rộng, Nhà trường sẽ xem xét điều chỉnh quy mô tuyển sinh phù hợp với chiến lược phát triển trong các giai đoạn tiếp theo.
Đối sánh với Thông tin tuyển sinh trình độ đại học năm 2026 được Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đăng tải trên website vào ngày 20/1/2026, chỉ tiêu dự kiến bằng với quy mô tuyển sinh được nêu trong đề án (30 chỉ tiêu).
Mức học phí của ngành Khoa học dữ liệu được xây dựng trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật đào tạo, các quy định hiện hành của Nhà nước, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học An Giang về cơ chế thu học phí đối với chương trình đào tạo đại học chính quy.
Định mức kinh tế - kỹ thuật năm 2026 của ngành Khoa học dữ liệu là 31,21 triệu đồng/sinh viên/năm. Trên cơ sở đó, lộ trình học phí dự kiến áp dụng như sau:
Mức học phí dự kiến áp dụng đối với ngành Khoa học dữ liệu giai đoạn 2026-2030. Ảnh chụp màn hình.
Mức học phí được xác định trên cơ sở bảo đảm chi phí đào tạo thực tế của chương trình, bao gồm chi phí giảng dạy, thực hành, thực tập, duy trì hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm chuyên ngành, dữ liệu thực hành và các hoạt động hỗ trợ học tập, cũng phù hợp với lộ trình tự chủ tài chính và khả năng tiếp cận giáo dục đại học của người học.
Giảng viên chủ trì mở ngành có chuyên môn Thống kê ứng dụng
Theo thông tin tại đề án mở ngành, giảng viên chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo ngành Khoa học dữ liệu là Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hoa, không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ đại học của các ngành khác đang đào tạo tại Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Đơn vị xác định ngành phù hợp đối với tiến sĩ chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện mở ngành và tiến sĩ chịu trách nhiệm chủ trì giảng dạy chương trình là ngành Toán học và ngành Toán ứng dụng.
Chuyên ngành của Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hoa là Thống kê ứng dụng. Ngoài ra, 6 giảng viên cơ hữu đứng tên mở ngành đều có trình độ Tiến sĩ các chuyên ngành như Toán ứng dụng, Giải tích ứng dụng, Thống kê ứng dụng, Hình học và topo.
Danh sách giảng viên cơ hữu đứng tên mở ngành Khoa học dữ liệu. Ảnh chụp màn hình.
Khoản 1, Điều 4, Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT, điều kiện mở ngành đào tạo trình độ đại học là có ít nhất 01 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu, không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ đại học của các ngành khác (trường hợp ngành đào tạo dự kiến mở là ngành ghép bởi các ngành học từ các nhóm ngành khác nhau, hoặc ngành đào tạo mang tính liên ngành được sắp xếp đồng thời vào một số nhóm ngành khác nhau, yêu cầu mỗi ngành được ghép phải có ít nhất 01 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu), có kinh nghiệm quản lý đào tạo hoặc giảng dạy đại học tối thiểu từ 03 năm trở lên chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Ngoài ra, về đội ngũ giảng viên, cán bộ cơ hữu có chuyên môn phù hợp gồm 14 người (9 tiến sĩ, 5 thạc sĩ). Đối chiếu năng lực chuyên môn của giảng viên với các học phần cốt lõi của chương trình đào tạo ngành Khoa học dữ liệu, cụ thể như sau:
Để bảo đảm năng lực triển khai ổn định và phát triển bền vững chương trình đào tạo ngành Khoa học dữ liệu, Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên giai đoạn 2026-2030 theo hướng tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng và bảo đảm tính kế thừa trong đội ngũ giảng viên tham gia chương trình.
Trong giai đoạn 2026–2030, nhà trường ưu tiên phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ đúng hoặc gần ngành Khoa học dữ liệu, Khoa học máy tính, Trí tuệ nhân tạo, Thống kê ứng dụng, Toán ứng dụng, Hệ thống thông tin và các lĩnh vực liên quan.
Việc phát triển đội ngũ được thực hiện thông qua các giải pháp: tuyển dụng giảng viên có chuyên môn phù hợp khi có điều kiện; cử giảng viên đi đào tạo tiến sĩ, sau tiến sĩ hoặc bồi dưỡng chuyên sâu về khoa học dữ liệu, học máy, trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật dữ liệu, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các công nghệ dữ liệu hiện đại; khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, hợp tác học thuật, tập huấn chuyên môn và trao đổi chuyên gia trong và ngoài Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở nguồn lực phát triển đội ngũ của nhà trường, trong đó có 87 viên chức đang theo học sau đại học gồm 68 nghiên cứu sinh, 11 học viên cao học và 8 cán bộ sau tiến sĩ, nhà trường sẽ rà soát, quy hoạch và tạo điều kiện để các viên chức có chuyên môn phù hợp hoặc gần với Khoa học dữ liệu, Khoa học máy tính, Trí tuệ nhân tạo, Thống kê ứng dụng, Toán ứng dụng, Hệ thống thông tin và các lĩnh vực liên quan tham gia bồi dưỡng, nghiên cứu và phát triển chuyên môn chuyên sâu về Khoa học dữ liệu và AI.
Đồng thời, nhà trường xây dựng lộ trình phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư và chuyên gia có chuyên môn phù hợp nhằm bảo đảm tính ổn định, kế thừa và phát triển bền vững của ngành Khoa học dữ liệu.
Các đề tài nghiên cứu được kê khai có mức độ liên quan đến ngành học ra sao?
Theo phụ lục Xác nhận điều kiện thực tế của cơ sở đào tạo, xét riêng số công trình khoa học đã công bố của 6 giảng viên đứng tên mở ngành Khoa học dữ liệu, chi tiết như sau:
| STT | Họ và tên | Kinh nghiệm (thời gian) giảng dạy theo trình độ (năm) | Số công trình khoa học đã công bố (cấp) | |
| Bộ | Cơ sở | |||
| 1 | Phạm Thị Thu Hoa | 24 | 0 | 5 |
| 2 | Phạm Thị Thu Hường | 24 | 0 | 3 |
| 3 | Lê Ngọc Quỳnh | 17 | 2 | 3 |
| 4 | Phạm Mỹ Hạnh | 22 | 2 | 4 |
| 5 | Võ Thành Tài | 22 | 1 | 8 |
| 6 | Phan Văn Long Em | 17 | 0 | 4 |
Cũng theo thống kê của đơn vị, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của cơ sở đào tạo, giảng viên, nhà khoa học liên quan đến ngành đào tạo dự kiến mở do cơ sở đào tạo thực hiện là 13. Bao gồm 11 đề tài cấp cơ sở, 2 đề tài cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó, đề tài Xây dựng bộ dữ liệu (dataset) kiến thức bản địa về thích ứng với biến đổi khí hậu trong đời sống và canh tác nông nghiệp ở tỉnh An Giang và Kiên Giang do Tiến sĩ Nguyễn Văn Hòa làm chủ nhiệm được nghiên cứu với các mục tiêu: Đánh giá được các hoạt động/giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của nông hộ theo các vùng sinh thái điển hình; phân tích tương tác giữa các bên có liên quan (nhà nông, nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học) về canh tác nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng được bộ dữ liệu về thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào kinh nghiệm thích ứng của nông hộ, nhu cầu của nhà doanh nghiệp, ý kiến của chuyên gia và các chính sách của nhà nước; xây dựng và triển khai phần mềm thích ứng biến đổi khí hậu trong canh tác nông nghiệp.
Đề tài đã xây dựng bộ dữ liệu kiến thức bản địa về thích ứng với biến đổi khí hậu của các nông hộ trong canh tác và đời sống với 272 kết quả phỏng vấn; đã triển khai vận hành hệ thống quản lý bộ dữ liệu kiến thức bản địa tại tên miền www.mekongdelta.vn và ứng dụng Android. Đề tài đạt 85.6/100 điểm, xếp loại Tốt. [1]
Bên cạnh đó, số lượng công trình khoa học công bố của giảng viên, nhà khoa học cơ hữu liên quan đến ngành đào tạo dự kiến mở của cơ sở đào tạo trong thời gian 5 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ mở ngành đào tạo là 55 (bao gồm cả công bố trong nước và quốc tế).
Tài liệu tham khảo:
[1] https://www.agu.edu.vn/vi/chi-tiet-thong-tin/nghiem-thu-de-tai-nghien-cuu-khoa-hoc-loai-b-cap-dhqg-hcm