Trong đó, ngành Răng - Hàm - Mặt của Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến thu 90 triệu đồng/năm, cao nhất của trường; còn mức cao nhất tại Trường Đại học Y Hà Nội là 80 triệu đồng/năm.
Việc học phí tiếp tục tăng diễn ra trong bối cảnh các trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo quy định của Chính phủ và được điều chỉnh học phí theo lộ trình tại Nghị định số 238/2025/NĐ-CP.
Trường Đại học Y Hà Nội: Tăng đồng loạt, cao nhất 80 triệu đồng/năm
Theo đề án tuyển sinh năm 2026, Trường Đại học Y Hà Nội dự kiến thu học phí từ 19,1 triệu đồng đến 80 triệu đồng mỗi năm học.
So với khóa tuyển sinh năm 2025, toàn bộ các ngành đều điều chỉnh tăng học phí, với mức tăng dao động từ 2,2 triệu đồng đến 17,8 triệu đồng/năm.
Trong đó, ngành Răng - Hàm - Mặt có mức tăng mạnh nhất, từ 62,2 triệu đồng lên 80 triệu đồng/năm, tăng 17,8 triệu đồng.
Nhóm ngành đào tạo bác sĩ gồm Y khoa và Y học cổ truyền cùng tăng từ 62,2 triệu lên 70 triệu đồng/năm.
Nhóm các ngành kỹ thuật sức khỏe như Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học, Kỹ thuật phục hồi chức năng, Khúc xạ nhãn khoa, Hộ sinh và Điều dưỡng chương trình tiên tiến, đồng loạt tăng từ 47,2 triệu đồng lên 53,2 triệu đồng/năm.
Trong khi đó, nhóm ngành Y học dự phòng, Y tế công cộng, Dinh dưỡng, Tâm lý học và Công tác xã hội vẫn duy trì mức học phí thấp hơn đáng kể, dao động từ 19,1 triệu đồng đến 35 triệu đồng/năm (tăng từ 2,2-3,9 triệu đồng so với năm ngoái).
Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh: Học phí cao hơn nhưng mức tăng thấp hơn
Ở phía Nam, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến áp dụng mức học phí từ 30 triệu đồng đến 90 triệu đồng/năm học.
So với năm 2025, phần lớn các ngành tăng từ 2 đến 5,8 triệu đồng/năm. Trong đó, Y khoa tăng từ 82,2 triệu đồng lên 88 triệu đồng; Răng - Hàm - Mặt tăng từ 84,7 triệu đồng lên 90 triệu đồng; Dược học tăng từ 60,5 triệu đồng lên 63,5 triệu đồng.
Đáng chú ý, hai ngành Y tế công cộng và Công tác xã hội giữ nguyên học phí so với năm trước, trong khi trường bổ sung tuyển sinh hai ngành mới là Công nghệ dược phẩm và Tâm lý học.
Nhìn chung, mặc dù học phí của Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn Trường Đại học Y Hà Nội ở nhiều ngành đào tạo chủ lực, mức điều chỉnh năm 2026 lại thấp hơn.
Đối chiếu các ngành đào tạo tương đồng cho thấy, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có mức học phí cao hơn ở phần lớn ngành.
Cụ thể, học phí ngành Y khoa là 88 triệu đồng/năm, cao hơn Trường Đại học Y Hà Nội 18 triệu đồng; ngành Răng - Hàm - Mặt cao hơn 10 triệu đồng; Y tế công cộng cao hơn gần 20 triệu đồng; Tâm lý học và Công tác xã hội đều cao hơn khoảng 11 triệu đồng.
Ở chiều ngược lại, Trường Đại học Y Hà Nội lại có học phí cao hơn đối với một số ngành như Y học cổ truyền (70 triệu đồng so với 55 triệu đồng), Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học và Kỹ thuật phục hồi chức năng (53,2 triệu đồng so với 48 triệu đồng).
Học phí ngành y tiếp tục xu hướng tăng
Việc điều chỉnh học phí tại hai trường đào tạo y lớn ở hai đầu đất nước phản ánh xu hướng chung của các cơ sở đào tạo khối sức khỏe trong bối cảnh mở rộng tự chủ đại học.
Theo Nghị định số 238/2025/NĐ-CP về cơ chế thu và quản lý học phí, các cơ sở giáo dục đại học công lập được điều chỉnh học phí hằng năm nhưng phải tuân thủ khung trần do Chính phủ quy định.
Đối với nhóm ngành y dược tại các trường chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức trần học phí năm học 2026-2027 là 35 triệu đồng/năm. Trường tự bảo đảm chi thường xuyên được thu tối đa gấp 2 lần mức trần, tương đương 70 triệu đồng/năm, còn trường tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư được thu tối đa gấp 2,5 lần, tương đương 87,5 triệu đồng/năm.
Đối với chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đại học công lập đạt mức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hoặc đạt mức kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc tương đương, cơ sở giáo dục đại học căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật hoặc định mức chi phí của từng ngành, nghề đào tạo do cơ sở giáo dục ban hành để tự quyết định mức thu học phí. Đây là cơ sở để một số chương trình có mức học phí vượt ngưỡng 87,5 triệu đồng/năm.
Trong khi đó, chính sách miễn học phí hiện mới áp dụng cho một số đối tượng rất hẹp trong lĩnh vực sức khỏe. Theo Điều 15 Nghị định 238/2025/NĐ-CP, người được miễn học phí chủ yếu là học viên sau đại học theo học các chuyên ngành đặc thù như tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm thần, truyền nhiễm và hồi sức cấp cứu tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc khối ngành sức khỏe. Phần lớn sinh viên đại học ngành y vẫn phải tự chi trả toàn bộ học phí theo mức thu của cơ sở đào tạo.