Từ mai (1/7), giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ

30/06/2026 09:39
Doãn Nhàn

GDVN -Từ 1/7, giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ; mỗi viên chức chỉ được là giảng viên đồng cơ hữu của một cơ sở giáo dục tại một thời điểm.

Đó là nội dung theo quy định của Nghị định số 159/2026/NĐ-CP quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học công lập, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026.

Giảng viên đồng cơ hữu được quy đổi tối đa bằng 0,5 giảng viên cơ hữu

Khái niệm "giảng viên đồng cơ hữu" lần đầu tiên được đưa vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thông qua Luật Giáo dục đại học 2025 và Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025.

pka01645-enhanced-nr.jpg
Ảnh minh họa: Đại học Phenikaa

Cụ thể, theo Luật Giáo dục đại học năm 2025, giảng viên đồng cơ hữu là một trong các loại giảng viên đại học, cùng với giảng viên cơ hữu, giảng viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và giảng viên thỉnh giảng.

Đây là viên chức có trình độ tiến sĩ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập trừ cơ sở giáo dục đại học, được giao nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học như giảng viên cơ hữu tại cơ sở giáo dục đại học công lập.

Tương tự, theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025, giảng viên đồng cơ hữu là một trong các loại giảng viên, giáo viên của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cùng với giảng viên và giáo viên cơ hữu, giảng viên và giáo viên hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, giảng viên và giáo viên thỉnh giảng.

Trong đó, giảng viên đồng cơ hữu là viên chức đang công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập (trừ cơ sở giáo dục công lập), có trình độ cao hoặc tài năng, năng khiếu đặc biệt hoặc kỹ năng nghề cao và được cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập giao nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu như giảng viên cơ hữu.

Theo Nghị định số 159/2026/NĐ-CP, khi xác định năng lực đào tạo của một cơ sở giáo dục, giảng viên đồng cơ hữu được tính vào tổng số giảng viên nhưng không được tính tương đương hoàn toàn với giảng viên cơ hữu.

Cụ thể, một giảng viên đồng cơ hữu chỉ được quy đổi tối đa bằng 0,5 giảng viên cơ hữu. Quy định này được áp dụng khi xác định điều kiện cấp phép hoạt động giáo dục, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo và kiểm định chất lượng. Hệ số quy đổi cụ thể do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Như vậy, nếu một cơ sở giáo dục có 10 giảng viên đồng cơ hữu và tất cả đều được áp dụng mức quy đổi tối đa, thì số này sẽ được tính tương đương tối đa 5 giảng viên cơ hữu khi xác định năng lực đào tạo.

Cũng theo Nghị định số 159/2026/NĐ-CP, mỗi viên chức chỉ được là giảng viên đồng cơ hữu của một cơ sở giáo dục tại cùng một thời điểm.

Giảng viên đồng cơ hữu phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tại đơn vị nơi giảng viên đồng cơ hữu đang công tác; báo cáo và được sự đồng ý bằng văn bản của người đứng đầu đơn vị về việc tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn tại cơ sở giáo dục.

Tiêu chuẩn đối với giảng viên đồng cơ hữu

Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Trường Cao đẳng Lý Thái Tổ
Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Trường Cao đẳng Lý Thái Tổ

Về tiêu chuẩn đối với giảng viên đồng cơ hữu, Nghị định số 159/2026/NĐ-CP quy định, giảng viên đồng cơ hữu trong cơ sở giáo dục đại học công lập phải có trình độ tiến sĩ.

Giảng viên đồng cơ hữu trong trường cao đẳng công lập phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau đây:

- Có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với ngành, nghề giảng dạy và có ít nhất 3 năm (36 tháng) kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời chủ trì hoặc tham gia công trình nghiên cứu khoa học, đề tài được cấp có thẩm quyền nghiệm thu theo quy định hoặc sáng kiến được cấp có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

- Có bằng chuyên khoa cấp I trở lên, bằng bác sĩ nội trú, bằng bác sĩ chuyên khoa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế và đang công tác tại cơ sở y tế dự phòng công lập hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập được xếp cấp chuyên môn kỹ thuật là cấp cơ bản, cấp chuyên sâu đối với lĩnh vực sức khỏe.

- Có danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú, Huấn luyện viên cấp quốc gia hoặc đạt giải thưởng cấp quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao hoặc lĩnh vực đặc thù khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

- Đạt giải thưởng hoặc chứng nhận tại các kỳ thi, cuộc thi kỹ năng nghề quốc gia trở lên hoặc chứng nhận huấn luyện học sinh, sinh viên đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp do tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 trở lên theo quy định của pháp luật về kỹ năng nghề.

- Có sản phẩm sáng tạo nghệ thuật, sáng kiến kỹ thuật, mô hình thực hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và áp dụng hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

Xem chi tiết Nghị định số 159/2026/NĐ-CP TẠI ĐÂY.

Doãn Nhàn