Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, dự kiến thay thế Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT. Đáng chú ý, dự thảo lần đầu bổ sung các chỉ số đặc thù dành cho cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, như quy định tối thiểu 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng phải có chứng chỉ hành nghề; ít nhất 30% giảng viên kiêm nhiệm đến từ các cơ sở thực hành, bệnh viện; đồng thời bảo đảm 100% người học được bố trí cơ sở thực hành.
Quy định 80% giảng viên có chứng chỉ hành nghề sẽ tạo áp lực nhưng cần thiết với khối sức khỏe
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam cho rằng, đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực sức khỏe luôn là vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm, bởi chất lượng đội ngũ này gắn trực tiếp với công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Do đó, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo nâng cao các tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo nhằm tạo ra đội ngũ thầy thuốc, bác sĩ có năng lực chuyên môn và kỹ năng hành nghề là chủ trương cần thiết với yêu cầu thực tiễn.
Đánh giá về quy định tối thiểu 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng phải có chứng chỉ hành nghề, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh nhận định đây là yêu cầu hoàn toàn hợp lý. Theo thầy, giảng viên thực hành là người trực tiếp hướng dẫn sinh viên tiếp cận kỹ năng nghề nghiệp, vì vậy nếu chưa từng hành nghề hoặc chưa được cấp chứng chỉ hành nghề thì khó có thể truyền đạt đầy đủ kinh nghiệm và kỹ năng thực tiễn.
Tuy nhiên, từ thực tiễn đào tạo, thầy Cảnh đề xuất dự thảo nên quy định chặt chẽ hơn, theo hướng giảng viên thực hành phải có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm hành nghề trước khi tham gia giảng dạy. Bởi trên thực tế, có trường hợp sinh viên vừa tốt nghiệp, được cấp chứng chỉ hành nghề đã được bố trí hướng dẫn thực hành. Dù đáp ứng điều kiện về mặt pháp lý, nhưng kinh nghiệm chuyên môn và khả năng xử lý các tình huống thực tế vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh, yêu cầu tối thiểu 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng có chứng chỉ hành nghề có thể tạo áp lực đối với một số cơ sở đào tạo trong giai đoạn đầu triển khai. Tuy nhiên, đây là mục tiêu cần thiết để các trường từng bước hoàn thiện đội ngũ giảng viên.
“Đặc thù của ngành y là làm việc trực tiếp với người bệnh, nên giảng viên không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải có quá trình hành nghề đủ dài để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Chỉ khi đó, việc hướng dẫn, truyền đạt kỹ năng nghề nghiệp và xử lý các tình huống lâm sàng cho sinh viên mới thực sự hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao”, thầy Cảnh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Y Dược Phenikaa, Đại học Phenikaa cũng cho rằng, việc bổ sung các chỉ số đặc thù đối với đào tạo lĩnh vực sức khỏe là cần thiết và lẽ ra nên được ban hành sớm hơn. Theo thầy, đào tạo nhân lực y tế luôn có tính đặc thù rất cao, do đó ở hầu hết các quốc gia đều được quản lý bằng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn so với nhiều lĩnh vực đào tạo khác.
Trên thực tế, sản phẩm của đào tạo khối ngành sức khỏe là đội ngũ cán bộ y tế trực tiếp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân. Vì vậy, chất lượng đào tạo không chỉ là vấn đề của riêng cơ sở giáo dục mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng hệ thống y tế và sự an toàn của người bệnh.
Đánh giá về dự thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng bày tỏ sự đồng tình với định hướng kết hợp giữa các tiêu chí chung áp dụng cho cơ sở giáo dục đại học và các chỉ số chuyên biệt dành cho lĩnh vực sức khỏe. Tuy nhiên, thầy cũng lưu ý khối ngành này bao gồm nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau như y khoa, răng hàm mặt, điều dưỡng, dược, kỹ thuật y học, y tế công cộng... Mỗi ngành có đặc thù về chương trình đào tạo, yêu cầu năng lực và điều kiện thực hành riêng, vì vậy trong quá trình hoàn thiện dự thảo cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng các chỉ số phù hợp với từng nhóm ngành, tránh áp dụng một cách cứng nhắc cùng một bộ tiêu chí cho tất cả.
Theo thầy Hùng, việc đưa các chỉ số đặc thù vào quy định không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng đối với đào tạo nhân lực y tế mà còn nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. Đồng thời, đây cũng sẽ là động lực để các trường đầu tư bài bản hơn vào đội ngũ giảng viên, hệ thống cơ sở thực hành và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Đánh giá về quy định yêu cầu tối thiểu 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng phải có chứng chỉ hành nghề, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng cho rằng đây là quy định hợp lý và phù hợp với đặc thù đào tạo trong lĩnh vực sức khỏe.
Theo đó, đối với các ngành nghề mà pháp luật quy định phải có chứng chỉ hành nghề, người trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh hoặc thực hiện các hoạt động chuyên môn đều bắt buộc phải đáp ứng điều kiện này. Vì vậy, việc yêu cầu phần lớn giảng viên thực hành, giảng viên lâm sàng có chứng chỉ hành nghề là hoàn toàn phù hợp với bản chất của đào tạo thực hành, góp phần bảo đảm người học được hướng dẫn bởi những người có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, theo thầy Hùng, việc dự thảo không quy định 100% mà đặt ngưỡng tối thiểu 80% cũng là cách tiếp cận hợp lý, vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa tạo sự linh hoạt cho các cơ sở giáo dục. Khoảng 20% còn lại có thể là đội ngũ cán bộ trẻ mới tốt nghiệp đang trong quá trình thực hành dưới sự hướng dẫn, giám sát của người có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật; hoặc là các giảng viên chủ yếu đảm nhiệm giảng dạy lý thuyết, nghiên cứu, mô phỏng và tiền lâm sàng, chưa trực tiếp tham gia hoạt động khám, chữa bệnh thường xuyên.
Trong khi đó, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho, Hiệu trưởng Trường Y - Dược, Đại học Đà Nẵng cho rằng, mặc dù mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo là cần thiết, nhưng việc đáp ứng yêu cầu tối thiểu 80% giảng viên thực hành hoặc giảng viên lâm sàng có chứng chỉ hành nghề sẽ là thách thức không nhỏ đối với một số cơ sở đào tạo.
Theo thầy Nho, khó khăn sẽ tập trung chủ yếu ở các trường mới mở ngành đào tạo lĩnh vực sức khỏe hoặc chưa có bệnh viện trực thuộc. Những cơ sở này thường mất nhiều thời gian để xây dựng đội ngũ giảng viên, thiết lập mạng lưới cơ sở thực hành và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng. Do đó việc đáp ứng ngay các chỉ số của dự thảo là không hề đơn giản.
Vì vậy, thầy Nho kiến nghị cơ quan soạn thảo cần quy định lộ trình thực hiện phù hợp, tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo từng bước đáp ứng các yêu cầu của chuẩn mới. Theo thầy, việc phát triển đội ngũ giảng viên và hệ thống cơ sở thực hành là quá trình cần nhiều thời gian, không thể hoàn thành chỉ trong một hoặc hai năm, nhất là đối với lĩnh vực liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người.
Cần làm rõ hơn khái niệm "giảng viên kiêm nhiệm đến từ cơ sở thực hành"
Với đặc thù đào tạo gắn chặt với thực hành, dự thảo Thông tư bổ sung quy định tối thiểu 30% giảng viên kiêm nhiệm phải đến từ các cơ sở thực hành, bệnh viện, qua đó tăng cường sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo với môi trường hành nghề.
Đánh giá về quy định này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh cho rằng đây là định hướng đúng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế. Khi đó, bệnh viện không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên thực hành mà còn trở thành một chủ thể trực tiếp tham gia đào tạo, qua đó từng bước khẳng định vai trò là cơ sở thực hành đạt chuẩn của các trường đại học.
Theo thầy Cảnh, khi các bác sĩ và chuyên gia đang trực tiếp khám, chữa bệnh tham gia giảng dạy với vai trò giảng viên kiêm nhiệm, sinh viên sẽ được tiếp cận nhiều hơn với kinh nghiệm thực tiễn và các tình huống lâm sàng mà sách vở khó có thể truyền tải đầy đủ. Điều này giúp người học rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo của nhà trường.
Tuy nhiên, để quy định này thực sự phát huy hiệu quả, theo thầy Cảnh, cần có cơ chế khuyến khích phù hợp đối với đội ngũ bác sĩ tham gia giảng dạy. Thực tế, nhiều bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm nhưng chưa mặn mà với công tác đào tạo do áp lực công việc lớn, trong khi chế độ đãi ngộ và cơ chế ghi nhận vẫn chưa tương xứng.
Theo thầy, muốn thu hút và giữ chân đội ngũ bác sĩ giỏi tham gia giảng dạy lâu dài, cần xây dựng chính sách thù lao, quyền lợi và cơ chế ghi nhận phù hợp. Khi những đóng góp của họ được ghi nhận xứng đáng, đội ngũ này sẽ có thêm động lực đồng hành cùng các cơ sở đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế.
Tương tự, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng cũng cho rằng, trong đào tạo khối ngành sức khỏe, bệnh viện chính là "giảng đường thứ hai". Bởi, sinh viên không chỉ học kiến thức trong sách mà còn phải rèn luyện tư duy lâm sàng, kỹ năng giao tiếp với người bệnh, làm việc nhóm và xử lý các tình huống thực tế. Những năng lực này được hình thành hiệu quả nhất dưới sự hướng dẫn của đội ngũ bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và các chuyên gia đang trực tiếp làm việc tại bệnh viện.
Vì vậy, thầy Hùng đánh giá quy định tối thiểu 30% giảng viên kiêm nhiệm đến từ các cơ sở thực hành, bệnh viện là phù hợp. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ hơn khái niệm "giảng viên kiêm nhiệm đến từ cơ sở thực hành", đồng thời cân nhắc quy định ngưỡng tối đa để bảo đảm sự cân đối giữa giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm nhiệm.
Theo thầy, nếu tỷ lệ giảng viên kiêm nhiệm quá cao cũng chưa hẳn tối ưu. Thực tế, nhiều trường y có bệnh viện thực hành trực thuộc, trong đó không ít giảng viên cơ hữu đồng thời là bác sĩ, dược sĩ hoặc điều dưỡng đang công tác tại bệnh viện. Đây không phải là giảng viên kiêm nhiệm, vì vậy cần có quy định rõ ràng để tránh cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất.
Bên cạnh đó, việc thu hút bác sĩ, chuyên gia tại bệnh viện tham gia giảng dạy vẫn gặp nhiều khó khăn do áp lực công việc chuyên môn lớn, quỹ thời gian hạn chế, trong khi cơ chế tài chính, chế độ đãi ngộ, công nhận giờ giảng và bổ nhiệm giảng viên kiêm nhiệm ở một số nơi chưa thực sự hấp dẫn. Theo thầy Hùng, để triển khai hiệu quả quy định này, cần xây dựng cơ chế hợp tác bền vững giữa trường đại học và bệnh viện theo hướng cùng đào tạo, cùng sử dụng nguồn nhân lực. Đồng thời có chính sách đãi ngộ phù hợp, đơn giản hóa thủ tục bổ nhiệm giảng viên kiêm nhiệm và tăng cường bồi dưỡng kỹ năng sư phạm cho đội ngũ cán bộ y tế.
Đối với quy định yêu cầu 100% người học được bố trí cơ sở thực hành, thầy Hùng đánh giá đây là điều kiện cốt lõi để bảo đảm chất lượng đào tạo. Theo thầy, người học chỉ có thể hình thành đầy đủ năng lực nghề nghiệp khi được thực hành trong môi trường thực tế dưới sự hướng dẫn của đội ngũ có chuyên môn và kinh nghiệm. Vì vậy, quy định này không chỉ là chỉ số quản lý mà còn bảo đảm quyền lợi của sinh viên và chất lượng đầu ra.
“Hiện nay, Trường Y - Dược, Đại học Phenikaa hiện cơ bản đáp ứng yêu cầu này thông qua hệ sinh thái sức khỏe Phenikaa và mạng lưới hợp tác với nhiều bệnh viện trên địa bàn Hà Nội. Nhà trường cũng mời nhiều bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng tham gia giảng dạy với vai trò giảng viên kiêm nhiệm, trong đó có nhiều người giữ vị trí trưởng, phó bộ môn chuyên ngành.
Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo, nhà trường vẫn tiếp tục mở rộng mạng lưới cơ sở thực hành, đầu tư hệ thống mô phỏng lâm sàng và tăng cường hợp tác với các bệnh viện để tạo điều kiện tốt nhất cho người học”, thầy Hùng thông tin.
Theo Phó Giáo sư Hùng, để quy định này khả thi hơn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, chính quyền địa phương, các cơ sở đào tạo và hệ thống cơ sở thực hành. Đồng thời sớm quy hoạch mạng lưới cơ sở thực hành đủ điều kiện, hoàn thiện cơ chế tài chính và tiêu chí đánh giá bệnh viện phục vụ đào tạo, khuyến khích đầu tư các trung tâm mô phỏng hiện đại và xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng cơ sở thực hành theo tiêu chí thống nhất.
"Nếu được triển khai đồng bộ, các quy định mới sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hệ thống chăm sóc sức khỏe và từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế", thầy Hùng kỳ vọng.