Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, dự kiến thay thế Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT.
Theo dự thảo, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học tiếp tục được xây dựng trên 6 nhóm tiêu chuẩn gồm: tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. So với Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT đang có hiệu lực, dự thảo có nhiều điểm điều chỉnh đáng chú ý.
Đáng chú ý, tại tiêu chuẩn 4 về tài chính, Thông tư 01 hiện hành quy định biên độ hoạt động trung bình 3 năm phải nằm trong phạm vi từ 0% đến 30%. Trong khi đó, dự thảo chỉ quy định biên độ hoạt động trung bình 3 năm không âm. Như vậy, so với quy định hiện hành, dự thảo bỏ giới hạn trần 30% đối với biên độ hoạt động.
Còn đối với tiêu chí tăng trưởng bền vững, dự thảo tiếp tục giữ yêu cầu tốc độ tăng trưởng bình quân không âm trong giai đoạn 3 năm liền kề, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu duy trì tăng trưởng tài chính ổn định, bền vững và đa dạng hóa nguồn thu phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển cơ sở giáo dục đại học. Những quy định này trong dự thảo hiện đang thu hút sự quan tâm rất lớn của lãnh đạo trường đại học.
Đề xuất giúp các trường phát huy hơn quyền chủ động trong quản trị tài chính
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trịnh Hữu Chung - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cho rằng, đây là một điều chỉnh đáng chú ý trong cách tiếp cận đối với quản trị tài chính của cơ sở giáo dục đại học. Nếu quy định này được ban hành chính thức, sẽ tạo thêm dư địa để các trường chủ động hơn trong việc quản lý, sử dụng và tích lũy nguồn lực tài chính phục vụ đầu tư phát triển.
"Thực tiễn cho thấy, một cơ sở giáo dục đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần có nguồn lực để đầu tư cho đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, việc không còn quy định mức trần cố định đối với biên độ hoạt động sẽ giúp các trường có điều kiện tích lũy hợp lý nhằm chuẩn bị cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn.
Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc biên độ hoạt động cao hay thấp, mà ở việc nguồn tài chính được quản trị minh bạch, sử dụng đúng mục đích và tái đầu tư cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như nâng cao chất lượng giáo dục. Đây cũng là tinh thần phù hợp với chủ trương tăng cường tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình", lãnh đạo Trường Đại học Gia Định nhấn mạnh thêm.
Cũng theo Thạc sĩ Chung, với quy định hiện hành, việc duy trì biên độ hoạt động trung bình 3 năm trong phạm vi từ 0% đến 30% là chỉ tiêu không dễ duy trì đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học, nhất là các trường đang trong quá trình đầu tư phát triển hoặc thực hiện tự chủ.
Nguồn thu của các trường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan như quy mô tuyển sinh, nhu cầu của người học, biến động kinh tế, chính sách học phí, nguồn tài trợ, hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Theo thầy Chung, những yếu tố này có thể làm doanh thu giữa các năm tăng hoặc giảm đáng kể. Bên cạnh đó, nhiều dự án đầu tư có giá trị lớn thường phải tích lũy nguồn lực trong nhiều năm trước khi triển khai. Trong giai đoạn đó, biên độ hoạt động có thể vượt ngưỡng 30%, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc nhà trường hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mà phản ánh nhu cầu chuẩn bị nguồn lực để tái đầu tư và phát triển.
"Việc chuyển từ quy định một mức trần cố định sang yêu cầu bảo đảm biên độ hoạt động không âm, đồng thời đánh giá thông qua tiêu chí tăng trưởng tài chính bền vững, theo tôi sẽ phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động của các trường đại học", Thạc sĩ Chung bày tỏ.
Còn theo đánh giá của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khắc Thường - Hiệu trưởng Trường Đại học Phan Thiết, việc dự thảo thông tư mới chỉ quy định biên độ hoạt động trung bình 3 năm không âm và bỏ quy định mức trần 30% có thể mang lại một số thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học, giúp phát huy hơn quyền chủ động trong quản trị tài chính.
"Nếu quy định này được áp dụng vào thực tế, tôi thấy rằng các trường có thể linh hoạt điều tiết dòng tiền giữa các năm tài chính mà không lo ngại vi phạm "chuẩn". Các trường có thể phát huy quản trị tài chính hiệu quả chỉ, tiết kiệm chi phí, tìm thêm giải pháp gia tăng nguồn thu để giữ lại lợi nhuận nhiều năm.
Từ đó, có thể tích lũy nguồn lực để đầu tư lớn để triển khai các dự án: xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư phòng thí nghiệm, đầu tư nghiên cứu, đầu tư chuyển đổi số, tuyển dụng đội ngũ giảng viên trình độ cao, mở ngành đào tạo mới đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ sở giáo dục đại học.
Có thể thấy rằng, với quy định hiện hành tại Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT về mức trần biên độ hoạt động là 30%, cơ sở giáo dục vẫn có thể duy trì nhưng có thể làm giảm động lực thu hút đầu tư chiến lược vào giáo dục", lãnh đạo Trường Đại học Phan Thiết cho hay.
Các trường đại học cần làm gì để tăng trưởng tài chính bền vững
Đề cập đến việc, cơ sở giáo dục đại học cần làm gì để có thể đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tài chính bền vững và đa dạng hóa nguồn thu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Gia Định cũng đã nêu một số quan điểm, theo đó vị này nhấn mạnh rằng các trường cần từng bước chuyển từ mô hình phụ thuộc chủ yếu vào học phí sang mô hình tài chính đa nguồn.
Điều đó đòi hỏi các trường cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; mở rộng hợp tác với doanh nghiệp; phát triển các chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại và bồi dưỡng theo nhu cầu xã hội; tăng cường quốc tế hóa; phát triển các hoạt động tư vấn, dịch vụ và khai thác hiệu quả các nguồn lực hợp pháp khác.
"Ngoài ra, ở góc độ chính sách, tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học theo hướng thực chất hơn; tạo điều kiện thuận lợi để các trường khai thác hiệu quả tài sản công theo đúng quy định của pháp luật; khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; đồng thời mở rộng cơ chế đặt hàng đào tạo và nghiên cứu từ Nhà nước cũng như doanh nghiệp.
Khi các trường có đủ quyền tự chủ đi đôi với cơ chế giám sát minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng, việc đa dạng hóa nguồn thu và duy trì tăng trưởng tài chính bền vững sẽ trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới", thầy Chung nhận định.
Còn theo quan điểm của Tiến sĩ Phạm Kim Thư – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị, để cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tài chính bền vững thì các trường cần giảm phụ thuộc vào học phí, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác doanh nghiệp, đào tạo ngắn hạn, đào tạo trực tuyến và khai thác hiệu quả tài sản hợp pháp.
Về chính sách, Nhà nước nên tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ, mở rộng cơ chế đặt hàng đào tạo và nghiên cứu, có chính sách ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư vào trường đại học, qua đó giúp các cơ sở giáo dục xây dựng nền tài chính ổn định và phát triển bền vững.
"Việc bỏ giới hạn trần 30% nhưng vẫn yêu cầu biên độ hoạt động trung bình 3 năm không âm là một thay đổi tích cực, phù hợp với tinh thần tự chủ đại học. Quy định này giúp các trường chủ động hơn trong quản trị tài chính, không còn phải “giữ” biên độ ở một mức nhất định.
Nếu trường hoạt động hiệu quả, tạo được nguồn tích lũy lớn từ các hoạt động hợp pháp thì có thêm nguồn lực để đầu tư cho cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, việc đánh giá trên bình quân 3 năm kết hợp với yêu cầu tăng trưởng bền vững sẽ phản ánh đúng hơn sức khỏe tài chính của nhà trường.
Trên thực tế, việc duy trì biên độ hoạt động trong khoảng 0% đến 30% không phải lúc nào cũng dễ vì chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan như biến động tuyển sinh, chính sách học phí, chi phí đầu tư, tiền lương hay các khoản tài trợ, nghiên cứu phát sinh theo từng năm.
Có những năm trường có thặng dư cao do nhận được nhiều dự án hoặc nguồn thu nghiên cứu, nhưng đó lại là tín hiệu tích cực chứ không phải bất cập. Ngược lại, khi trường đầu tư mạnh cho phát triển thì biên độ có thể giảm. Vì vậy, việc bỏ ngưỡng trần sẽ phù hợp hơn với thực tiễn quản trị đại học", Tiến sĩ Phạm Kim Thư bày tỏ.