Muốn có doanh nghiệp công nghệ mạnh thì phải có trường đại học, viện nghiên cứu và nhân lực mạnh

03/07/2026 06:25
Tường San

GDVN -Muốn có doanh nghiệp công nghệ mạnh thì phải có đại học mạnh, viện nghiên cứu mạnh và nguồn nhân lực mạnh. Doanh nghiệp, đại học và Nhà nước phải đi cùng nhau, nếu tách rời thì rất khó đạt mục tiêu

Theo đánh giá của một số chuyên gia, lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học, các mục tiêu đến năm 2030 được đặt ra trong Quyết định số 1091/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026 – 2030 sẽ khả thi nếu có sự đồng hành chặt chẽ của các nhà trường, Nhà nước và doanh nghiệp.

Cụ thể, Đề án đặt ra các mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng. Về số lượng người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội của mỗi doanh nghiệp công nghệ số, bình quân năm phải đạt từ 5.000 người trở lên. Mỗi doanh nghiệp có tối thiểu một tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tỷ lệ chi cho R&D (nghiên cứu và phát triển) trên tổng doanh thu của doanh nghiệp đạt từ 3% trở lên.

Chiến lược hình thành những đầu tàu có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Trước những mục tiêu trên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Gia Như - Hiệu trưởng Trường Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (SCA), Đại học Duy Tân, Phó Chủ tịch Mạng lưới Đổi mới Sáng tạo và Chuyên gia An ninh Mạng Việt Nam – ViSecurity cho rằng, đây là những mục tiêu cần thiết. Bởi, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, mà phải từng bước làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu, làm chủ hạ tầng số và bảo vệ được chủ quyền số của mình.

Việc đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn cho thấy Việt Nam đang chuyển từ tư duy “phát triển doanh nghiệp công nghệ” sang tư duy “xây dựng lực lượng công nghệ quốc gia”. Đây không chỉ là câu chuyện của một vài tập đoàn lớn, mà là chiến lược hình thành những đầu tàu có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kéo theo các doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học cùng phát triển.

Theo thầy Như, tính khả thi của mục tiêu này phụ thuộc vào ba điều kiện then chốt: Phải có thị trường đủ lớn cho sản phẩm công nghệ Việt Nam, bao gồm cả thị trường trong nước và khu vực; Phải có cơ chế đặt hàng, mua sắm, thử nghiệm và chấp nhận sản phẩm công nghệ trong nước, nhất là trong các lĩnh vực hạ tầng số, dữ liệu, AI, an ninh mạng, chính phủ số, đô thị thông minh; Và phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, vì doanh nghiệp công nghệ chiến lược không thể phát triển nếu thiếu kỹ sư giỏi, chuyên gia AI, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia an ninh mạng và đội ngũ quản trị công nghệ có tầm nhìn toàn cầu.

615180583-1291781496310146-6709143919659841406-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Gia Như - Hiệu trưởng Trường Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (SCA), Đại học Duy Tân, Phó Chủ tịch Mạng lưới Đổi mới Sáng tạo và Chuyên gia An ninh Mạng Việt Nam – ViSecurity. Ảnh: Website Đại học Duy Tân

“Tôi cho rằng, nếu chỉ nhìn vào tiêu chí doanh thu hay quy mô lao động thì mục tiêu này rất khó. Nhưng nếu nhìn theo cách xây dựng hệ sinh thái, trong đó Nhà nước tạo cơ chế, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, đại học cung cấp tri thức và nhân lực, thì đây là mục tiêu có thể đạt được”, thầy Như nói.

Đối với yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải có quy mô lớn về nhân lực, có tổ chức khoa học công nghệ và chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) từ 3% doanh thu trở lên, thầy Như cho rằng, điểm quan trọng nhất là phải phân biệt rõ giữa “doanh nghiệp công nghệ lớn” và “doanh nghiệp lớn nhờ công nghệ”. Một doanh nghiệp có nhiều lao động, doanh thu lớn, thị phần lớn chưa chắc đã là doanh nghiệp công nghệ chiến lược nếu họ chủ yếu tích hợp, phân phối hoặc khai thác công nghệ có sẵn. Doanh nghiệp công nghệ chiến lược phải có năng lực nghiên cứu, thiết kế, phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ lõi.

Yêu cầu chi R&D từ 3% doanh thu trở lên là một tiêu chí rất quan trọng, nhưng vấn đề không chỉ là chi bao nhiêu, mà là chi vào đâu và tạo ra kết quả gì. R&D phải hướng vào các công nghệ có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chip bán dẫn, an ninh mạng, nền tảng số, tự động hóa thông minh, AI-Agent và các hệ thống hạ tầng số an toàn, tin cậy.

Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp cần có tổ chức khoa học và công nghệ thực chất, không hình thức. Tổ chức này phải có nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu, phòng thí nghiệm, dữ liệu, hạ tầng tính toán, cơ chế công bố, đăng ký sở hữu trí tuệ và chuyển giao sản phẩm ra thị trường. Chúng ta cần đo năng lực đổi mới sáng tạo không chỉ bằng số tiền đầu tư, mà bằng số bằng sáng chế, số sản phẩm công nghệ lõi, số nền tảng được triển khai, số thị trường xuất khẩu và số bài toán quốc gia được giải quyết.

Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp hợp tác sâu với đại học. Thực tế cho thấy, những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đều có quan hệ rất chặt với các trường đại học nghiên cứu. Do vậy, nếu doanh nghiệp chỉ tự làm R&D trong nội bộ thì sẽ bị giới hạn; nhưng nếu biết kết nối với đại học, viện nghiên cứu, mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước, thì năng lực đổi mới sẽ được nhân lên rất nhanh.

Nhà trường phải bớt “đào tạo trong phòng học”, doanh nghiệp phải bớt “tuyển người rồi đào tạo lại từ đầu”

Đồng tình với quan điểm trên, Đại biểu Quốc hội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Huy - Ủy viên Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội khóa XVI, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Blockchain và Trí tuệ nhân tạo ABAII, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần HTV Giải pháp Blockchain cho hay, mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước là rất quan trọng. Thực tiễn cho thấy, nếu không có những doanh nghiệp công nghệ đủ lớn, Việt Nam sẽ rất khó làm chủ hạ tầng số, dữ liệu số, AI, an ninh mạng và các nền tảng công nghệ lõi.

Theo Phó Giáo sư Trần Mạnh Huy, tính khả thi của mục tiêu này phụ thuộc vào cách chúng ta triển khai. Nếu chỉ hiểu “lớn” là đông lao động, doanh thu cao thì có thể đạt được bằng tăng trưởng quy mô. Nhưng nếu “lớn” đồng thời phải mạnh về công nghệ lõi, có năng lực R&D, có sản phẩm nền tảng và có khả năng cạnh tranh khu vực, thì điều kiện then chốt là phải tạo được thị trường đủ lớn cho doanh nghiệp Việt.

Để mục tiêu này thực sự khả thi, cần chú trọng đến 4 điều kiện quan trọng. Đó là đặt hàng công nghệ từ Nhà nước cho các bài toán lớn như dữ liệu quốc gia, hạ tầng số, y tế, giáo dục, giao thông, tài chính, an ninh mạng; cơ chế sandbox để doanh nghiệp được thử nghiệm nhanh; nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách tài chính đủ mạnh cho nghiên cứu và phát triển (R&D) bởi công nghệ chiến lược không thể phát triển bằng tư duy gia công ngắn hạn.

732813386-10164489174173024-5551511786606187580-n.jpg
Đại biểu Quốc hội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Mạnh Huy - Ủy viên Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội khóa XVI. Ảnh: NVCC

Nhìn nhận từ góc nhìn của doanh nghiệp công nghệ, Phó Giáo sư Huy cho rằng, để không chỉ lớn về quy mô mà thực sự mạnh về công nghệ lõi, đối với các doanh nghiệp công nghệ, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy “làm dự án” sang tư duy “làm nền tảng”.

Doanh nghiệp công nghệ chiến lược không thể chỉ sống bằng gia công phần mềm hoặc tích hợp hệ thống. Họ phải có sản phẩm lõi, bằng sáng chế, dữ liệu, đội ngũ nghiên cứu và năng lực triển khai ở quy mô lớn. Muốn vậy, R&D phải được xem là đầu tư chiến lược, không phải chi phí phụ. Doanh nghiệp cần có viện nghiên cứu, phòng lab, nhóm AI, nhóm dữ liệu, nhóm bảo mật, nhóm sản phẩm nền tảng. Quan trọng hơn, kết quả nghiên cứu phải đi được ra thị trường, chứ không dừng ở báo cáo hay đề tài nghiệm thu. Hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường cần đi vào thực chất hơn.

“Tôi cho rằng, nên có cơ chế đồng tài trợ phòng lab nghiên cứu giữa doanh nghiệp và đại học; đặt hàng đề tài nghiên cứu từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; cho phép giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên tham gia dự án công nghệ lớn và có cơ chế chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng. Nói ngắn gọn, nhà trường phải bớt “đào tạo trong phòng học”, doanh nghiệp phải bớt “tuyển người rồi đào tạo lại từ đầu”. Hai bên phải gặp nhau ở bài toán thật, dữ liệu thật, sản phẩm thật”, Phó Giáo sư Trần Mạnh Huy nhấn mạnh.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành – Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải cho hay, nhìn một cách tổng thể, bộ chỉ số trong Đề án 1091/QĐ-TTg là một hệ thống thiết kế rất logic, có tính liên kết hữu cơ chặt chẽ về mặt kinh tế học hành vi và toán học vận hành, chứ không phải là những con số đặt ra một cách ngẫu nhiên.

image-1.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành – Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải. Ảnh: Trà My

Cụ thể, tỷ lệ chi R&D từ 3% trở lên là "động cơ sống còn". Đối với doanh nghiệp công nghệ, nếu không đầu tư cho R&D, sản phẩm sẽ lỗi thời chỉ sau 2-3 năm. 3% là ngưỡng tối thiểu để một doanh nghiệp liên tục tìm ra chu kỳ tăng trưởng tiếp theo, dịch chuyển từ gia công lên tự chủ sở hữu trí tuệ (IP);

Tổ chức khoa học công nghệ nội bộ là "bánh lái điều hướng". Để tiêu khoản ngân sách 3% doanh thu vào R&D một cách hiệu quả, doanh nghiệp bắt buộc phải có một cấu trúc nghiên cứu bài bản, có các nhà khoa học cơ hữu dẫn dắt, tránh việc chi tiêu tản mác;

Quy mô 5.000 lao động là "trọng lượng tối hạn" (Critical Mass). Để có doanh thu đủ lớn nhằm nuôi bộ máy R&D với tỷ lệ chi 3%, doanh nghiệp phải có quy mô thị trường và sản phẩm cực lớn. Con số tối thiểu 5.000 người lao động đảm bảo doanh nghiệp có đủ nguồn lực để vận hành một hệ sinh thái sản phẩm phức tạp, làm "đầu tàu" kéo theo hàng ngàn doanh nghiệp vệ tinh phụ trợ.

Muốn thương mại hóa thành công cần thay đổi cách đánh giá đại học

Từ góc nhìn thực tiễn, Phó Giáo sư Nguyễn Gia Như bày tỏ, giáo dục đại học phải thay đổi mạnh mẽ, từ đào tạo theo chương trình sang đào tạo theo năng lực, từ truyền đạt kiến thức sang giải quyết bài toán thực tiễn. Thị trường doanh nghiệp công nghệ chiến lược cần những con người không chỉ biết lập trình, mà phải biết tư duy hệ thống, hiểu dữ liệu, hiểu an toàn thông tin, hiểu sản phẩm, hiểu quy trình công nghiệp và có khả năng học suốt đời.

Hơn nữa, trong các lĩnh vực như AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng và hạ tầng số, kiến thức thay đổi rất nhanh. Vì vậy, chương trình đào tạo đại học không thể cập nhật theo chu kỳ 4–5 năm như trước mà cần xây dựng chương trình linh hoạt hơn, có các học phần mới về AI tạo sinh, học máy hiện đại, khoa học dữ liệu, kỹ thuật dữ liệu, bảo mật đám mây, an ninh mạng dùng AI, DevSecOps, điện toán biên, kiến trúc hệ thống lớn, quản trị dữ liệu và đạo đức AI.

638778831931782709-g6a9908-1.png
Sinh viên Trường Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo, Đại học Duy Tân. Ảnh: Website nhà trường.

Cũng theo thầy Như, một thay đổi rất quan trọng là phải đưa sinh viên ngành công nghệ vào môi trường dự án thật sớm; được làm việc với bài toán thật, dữ liệu thật, sản phẩm thật, khách hàng thật và quy trình phát triển phần mềm thật. Khi đó, các em không chỉ học để thi, mà học để tạo ra giá trị.

Không những vậy, cần phát triển mạnh mô hình đào tạo đồng thiết kế giữa đại học và doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, đưa chuyên gia vào giảng dạy, cung cấp bài toán, thực tập, phòng thí nghiệm, học bổng và đặt hàng nhân lực. Đại học cung cấp nền tảng khoa học, phương pháp nghiên cứu, năng lực tư duy và nguồn nhân lực dài hạn. Nếu làm tốt, đại học không chỉ là nơi cung cấp lao động, mà là một phần của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia.

Để làm được điều này, giúp kết quả nghiên cứu từ đại học có thể đi vào doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghệ có khả năng thương mại hóa và cạnh tranh quốc tế, thầy Như cho rằng, cần giải quyết được điểm nghẽn trong mô hình hợp tác giữa Nhà nước-nhà trường- doanh nghiệp.

Theo thầy Như, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là các trường đại học không nghiên cứu, cũng không phải doanh nghiệp không có nhu cầu, mà là thiếu cơ chế kết nối nghiên cứu với thị trường một cách hiệu quả. Nhiều kết quả nghiên cứu dừng lại ở bài báo, đề tài, hội thảo, trong khi doanh nghiệp lại cần sản phẩm có thể triển khai, vận hành, mở rộng và cạnh tranh.

Mô hình Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cần được thiết kế theo hướng cùng đầu tư, cùng làm, cùng sở hữu và cùng khai thác kết quả. Nhà nước nên đóng vai trò kiến tạo - đặt hàng các bài toán lớn, tạo hành lang pháp lý cho thử nghiệm công nghệ mới, hỗ trợ tài chính ban đầu, bảo vệ sở hữu trí tuệ và mở ra thị trường ứng dụng trong khu vực công; Doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt nhu cầu, đưa bài toán thực tiễn, đầu tư phát triển sản phẩm và thương mại hóa; Nhà trường đóng vai trò cung cấp tri thức, nhân lực nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thuật toán, mô hình và giải pháp nền tảng.

Đặc biệt, cần hình thành các trung tâm R&D liên kết giữa đại học và doanh nghiệp trong những lĩnh vực chiến lược như AI, an ninh mạng, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ phần mềm, đô thị thông minh và chuyển đổi số. Ở đó, giảng viên, nhà khoa học, kỹ sư doanh nghiệp, nghiên cứu sinh và sinh viên cùng làm việc trên một bài toán chung. Kết quả đầu ra không chỉ là công bố khoa học, mà còn là bằng sáng chế, phần mềm, nền tảng, sản phẩm mẫu, startup spin-off và giải pháp triển khai trong thực tế.

Thày Như bày tỏ, muốn thương mại hóa thành công, chúng ta cũng cần thay đổi cách đánh giá đại học. Không nên chỉ đánh giá bằng số bài báo, mà cần đánh giá cả tác động công nghệ, số hợp đồng chuyển giao, số doanh nghiệp được hỗ trợ, số sản phẩm thương mại hóa, số startup công nghệ hình thành từ trường đại học và số nhân lực chất lượng cao cung cấp cho nền kinh tế.

“Với Đại học Duy Tân, chúng tôi nhìn thấy trách nhiệm rất rõ trong việc đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu, công nghệ phần mềm, an ninh mạng, hệ thống thông tin, chuyển đổi số và hạ tầng số. Đại học không thể đứng ngoài chiến lược phát triển doanh nghiệp công nghệ quốc gia. Ngược lại, đại học phải trở thành nơi cung cấp nhân lực, tri thức, nghiên cứu, giải pháp và các mô hình thử nghiệm công nghệ mới”, thầy Huy nói.

Hiện đang công tác giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng, Phó Giáo sư Trần Mạnh Huy bày tỏ, cơ sở giáo dục đại học không chỉ là nơi cung cấp nhân lực, mà phải trở thành một phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Muốn có doanh nghiệp công nghệ chiến lược thì phải có nguồn kỹ sư, nhà nghiên cứu, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia AI, chuyên gia an ninh mạng và kiến trúc sư hạ tầng số đủ mạnh.

Hiện nay, điểm yếu lớn của đào tạo đại học là chương trình còn chậm so với tốc độ thay đổi của công nghệ.

Trước thực tiễn đó, các trường đại học đào tạo lĩnh vực công nghệ chiến lược cần thay đổi về một số điểm quan trọng. Đơn cử như đào tạo theo năng lực thực chiến, gắn với dự án thật, dữ liệu thật và bài toán thật của doanh nghiệp; tăng mạnh các học phần liên ngành như AI trong y tế, AI trong tài chính, dữ liệu trong quản trị đô thị, an ninh mạng cho hạ tầng trọng yếu.

Hơn nữa, cần đưa doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào thiết kế chương trình, giảng dạy, hướng dẫn đồ án, thực tập và tuyển dụng. Đặc biệt, với AI và dữ liệu lớn, sinh viên không thể chỉ học thuật toán. Người học cần hiểu dữ liệu, hiểu quy trình nghiệp vụ, hiểu đạo đức công nghệ, bảo mật, pháp lý và khả năng triển khai sản phẩm trong môi trường thật.

“Muốn có doanh nghiệp công nghệ mạnh thì phải có đại học mạnh, viện nghiên cứu mạnh và nguồn nhân lực mạnh. Doanh nghiệp, đại học và Nhà nước phải đi cùng nhau, nếu tách rời thì rất khó đạt mục tiêu. Tôi cho rằng mục tiêu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược đến năm 2030 không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là mục tiêu về năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Đây là thời điểm Việt Nam cần những doanh nghiệp công nghệ đủ lớn, đủ sâu và đủ bản lĩnh để tham gia vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu”, Phó Giáo sư Trần Mạnh Huy nói.

Giáo sư Bùi Tiến Thành bày tỏ, để giải bài toán cung ứng nguồn nhân lực quy mô lớn (5.000 lao động trở lên cho mỗi doanh nghiệp công nghệ chiến lược), chúng ta không thể dùng tư duy lối mòn là "nhân bản vô tính" số lượng sinh viên bằng cách tăng chỉ tiêu tuyển sinh một cách cơ học. Nhìn từ góc độ nguyên lý nền tảng, vai trò của trường đại học không phải là một "nhà máy gia công thợ code", mà phải là "bộ lọc hạt giống" và "vườn ươm gia tốc".

Theo thầy Thành, một doanh nghiệp công nghệ với quy mô tối thiểu 5.000 người lao động cần một hệ sinh thái nhân lực hoàn chỉnh: từ kỹ sư R&D, chuyên gia tích hợp hệ thống, đến quản lý dự án công nghệ phức tạp. Vì vậy, sự chuẩn bị của các trường đại học cần tập trung vào 3 trụ cột cốt lõi:

Thứ nhất là, kiên định với tư duy nền tảng. Thay vì chạy theo các kỹ năng công nghệ ngắn hạn (vốn có chu kỳ lỗi thời/lạc hậu rất nhanh), nhà trường tập trung trang bị gốc rễ vững chắc cho sinh viên về Toán học, Vật lý, Tư duy thuật toán và Khoa học dữ liệu. Khi có "gốc" vững, sinh viên sẽ có năng lực tự tiến hóa và thích ứng cực nhanh với mọi công nghệ mới của doanh nghiệp.

Thứ hai là, đẩy mạnh mô hình đào tạo "co giãn linh hoạt" (Scalable Architecture). Nhà trường cần chuyển dịch sang mô hình đào tạo mở, phối hợp sâu sắc với các tập đoàn công nghệ ngay từ năm thứ 2 hoặc thứ 3 (lựa chọn các chương trình để thực hiện mô hình co-operative). Doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là "giảng đường thứ hai", cùng gánh vác nguồn lực đào tạo thực tế, giúp rút ngắn thời gian bàn giao nhân lực từ nhà trường sang thị trường lao động.

Thứ ba là, đào tạo kỹ sư có tư duy hệ thống (Systems Thinking). Để vận hành một bộ máy 5.000 người, các kỹ sư tương lai phải hiểu được bức tranh lớn, biết cách kết nối các module công nghệ độc lập thành một hạ tầng tổng thể thống nhất.

Đứng trước làn sóng chuyển đổi số và định hướng vĩ mô của Chính phủ, thầy Thành thông tin, chiến lược phát triển của Trường Đại học Giao thông vận tải cũng không nằm ngoài việc đưa các công nghệ mũi nhọn này vào làm "trục xương sống" cho các chương trình đào tạo cốt lõi.

Để sinh viên dịch chuyển từ vị thế "người tiêu dùng công nghệ" (dùng các công cụ, API có sẵn) sang vị thế "người kiến tạo và làm chủ công nghệ lõi", chương trình đào tạo bắt buộc phải có những cuộc cách mạng về cấu trúc ngầm bên dưới. Chính vì vậy, nhà trường đã và đang thực hiện những điều chỉnh mang tính bản chất như điều chỉnh chương trình đào tạo và cấu trúc môn học; Thay đổi phương pháp luận, từ "Giải bài toán" sang "Định nghĩa bài toán"; Nhúng văn hóa R&D vào đồ án tốt nghiệp.

Tường San