Viện IDK góp ý nội dung liên quan tới thư viện, tài nguyên thông tin ở dự thảo chuẩn cơ sở GDĐH

01/07/2026 09:25
Khánh Hòa

GDVN - Góp ý dự thảo Thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học, Viện Nghiên cứu và Phát triển Tri thức số cho rằng nhiều tiêu chí về thư viện bị lược giảm, lo ngại không đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nghiên cứu khoa học.

Ngày 30/6/2025, Viện Nghiên cứu và Phát triển Tri thức số (IDK), trực thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã có văn bản góp ý đối với dự thảo lần thứ hai "Thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học". Nội dung góp ý tập trung vào các tiêu chuẩn, tiêu chí, yêu cầu đối với thư viện và tài nguyên thông tin, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện dự thảo.

Các nội dung góp ý cụ thể như sau:

Nội dung trong Dự thảo Kiến nghị sửa Lý do
Chương 1, Điều 2, mục 7 phần a) Hội trường, giảng đường,… thực nghiệm, thực hành, thực tập, luyện tập; thư viện, trung tâm học liệu…" Chương 1, Điều 2, mục 7 phần a) Hội trường, giảng đường,… thực nghiệm, thực hành, thực tập, luyện tập; thư viện, trung tâm thông tin - thư viện, trung tâm học liệu (sau đây gọi chung là thư viện)…" Thực tế tên gọi thư viện, trung tâm thông tin - thư viện nhiều hơn tên gọi "Trung tâm học liệu". Tên gọi "Trung tâm học liệu" chưa bao quát hết nội hàm hoạt động của thư viện đại học.
Chương 2, Tiêu chuẩn 3 Tên tiêu chuẩn: Cơ sở vật chất. Điều chỉnh tên tiêu chuẩn thành: Cơ sở vật chất và thư viện. - Cần xem xét thư viện là một bộ phận cấu thành trường đại học.
- Xếp thư viện chung vào cơ sở vật chất sẽ không bao hàm hết các thành tố cấu thành thư viện.
- Các tài liệu khoa học và các văn bản pháp quy khác, ví dụ: Luật thư viện đều tiếp cận thư viện từ 4 yếu tố cấu thành: Cơ sở vật chất; tài nguyên thông tin; người làm công tác thư viện và người sử dụng thư viện.
Chương 2, Tiêu chuẩn 3, Mục c) Tiêu chí 3.3. Hệ thống thư viện và học liệu phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập của người học; bảo đảm độ phủ học liệu của các chương trình đào tạo đang triển khai đạt 100% và tỷ lệ giảng viên, người học tiếp cận, khai thác, sử dụng học liệu theo phương thức trực tiếp hoặc trực tuyến đạt tối thiểu 60%. Tiêu chí 3.3. Có thư viện phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường, trong đó:
a, Không gian
+ Có trụ sở được bố trí thuận tiện đáp ứng yêu cầu của người sử dụng.
+ Có không gian mạng được thiết lập nhằm cung cấp các dịch vụ trực tuyến tới người sử dụng cũng như liên kết tới các thư viện khác.
b, Tài nguyên thông tin
+ Có đủ tài nguyên thông tin phù hợp đáp ứng các ngành, chuyên ngành đào tạo.
+ Tài nguyên thông tin phải được tổ chức, quản lý bằng các hệ thống phần mềm – công nghệ hiện đại đảm bảo để người sử dụng truy cập trực tuyến khai thác dễ dàng.
c, Người làm công tác thư viện Có năng lực chuyên môn thông tin - thư viện và các năng lực khác, đáp ứng yêu cầu các vị trí công việc trong thư viện hiện đại.
d, Người sử dụng thư viện 100% người học của cơ sở giáo dục đại học được tiếp cận các dịch vụ của thư viện
- Xem xét thư viện là một bộ phận cấu thành trường đại học.
- Tiếp cận thư viện tổng thể từ các yếu tố căn bản cấu thành thư viện.
- Không đi vào quy định chi tiết để tránh trùng lặp; Các quy định chi tiết sẽ để trong: Thông tư về tiêu chuẩn thư viện đại học (Hiện tại là Thông tư 14/2023/TT-BGDĐT, Thông tư này cũng cần được cập nhật); Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học (đang được dự thảo).
- Dùng thuật ngữ tài nguyên thông tin để phù hợp với Luật Thư viện; các thông tư khác.
- Tiếp cận theo xu hướng chuyển đổi số.
- Khái quát nhằm phù hợp với nhiều vị trí công việc như Quản lý tài liệu; Quản trị thông tin; Quản trị tri thức; Quản trị tri thức trong môi trường số.
Chương 2, Tiêu chuẩn 3, dòng đầu tiên "Cơ sở giáo dục đại học….hệ thống thông tin và học liệu…." Điều chỉnh: Chương 2, Tiêu chuẩn 3, dòng đầu tiên "Cơ sở giáo dục đại học….hệ thống thư viện và tài nguyên thông tin đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng…." Nội hàm khái niệm "Tài nguyên thông tin" đầy đủ theo Luật định và nội hàm phù hợp về mặt khoa học với môi trường giáo dục đại học như đã phân tích ở trên cho cả thầy và trò.
Chương 2, Tiêu chuẩn 3, Mục c) Tiêu chí 3.3. Hệ thống thư viện và học liệu phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập của người học; bảo đảm độ phủ học liệu của các chương trình đào tạo đang triển khai đạt 100% và tỷ lệ giảng viên, người học tiếp cận, khai thác, sử dụng học liệu theo phương thức trực tiếp hoặc trực tuyến đạt tối thiểu 60%. 1) Điều chỉnh về khái niệm: Chương 2, Tiêu chuẩn 3, Mục c) Tiêu chí 3.3. Thư viện có nguồn tài nguyên và hệ thống phần mềm quản lý truy cập, khai thác phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục;

2) Điều chỉnh về nội dung: Nếu theo chuẩn này quá thấp so với nhu cầu tài nguyên thông tin thực tế hiện nay của người dạy và người học cần có để phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Nên chăng ghi cụ thể: "…đáp ứng yêu cầu của Tiêu chuẩn thư viện đại học".
(1) Nếu Tỷ lệ học phần có đủ tài nguyên thông tin theo yêu cầu của chương trình đào tạo là 100%. Điều đó có nghĩa là "đầy đủ giáo trình, sách chuyên khảo hoặc học liệu theo quy định của chương trình đào tạo và được cung cấp cho người học dưới ít nhất một trong các hình thức: bản in tại thư viện; học liệu số; tài nguyên truy cập mở; quyền truy cập điện tử hợp pháp".
Như vậy: Yêu cầu này thấp hơn rất nhiều so với các yêu cầu về số bản sách/người học/chương trình đào tạo ở các quy định trước đây. Theo định nghĩa trên, chỉ cần 1 bản copy (bản in hoặc bản số hoặc cả 2) tại thư viện là đủ.

(2)Tỷ lệ giảng viên, người học tiếp cận, khai thác, sử dụng học liệu theo phương thức trực tiếp hoặc trực tuyến đạt tối thiểu 60%. Mỗi giảng viên, người học được gọi là đạt nếu có "phát sinh ít nhất một trong các hoạt động: mượn hoặc gia hạn tài liệu; truy cập thư viện số; truy cập cơ sở dữ liệu điện tử; đọc, tải hoặc sử dụng học liệu số; sử dụng tài nguyên học tập thông qua hệ thống quản lý học tập hoặc hệ thống thư viện điện tử".
Như vậy: Nếu chỉ cần 1 lần vào mượn hoặc truy cập trong 1 năm học cho từng giảng viên/người học thì yêu cầu này quá thấp.
Chương 3, Điều 8, Nguồn dữ liệu sử dụng để xác định các chỉ số đánh giá
Mục 4. "Hệ thống thư viện số và hệ thống quản lý khai thác, truy cập tài nguyên số của cơ sở giáo dục đại học"
Chương 3, Điều 8, Nguồn dữ liệu sử dụng để xác định các chỉ số đánh giá
Điều chỉnh Mục 4. "Hệ thống phần mềm quản lý thư viện và quản lý người dùng truy cập, khai thác tài nguyên thư viện của cơ sở giáo dục đại học"
Không nên dùng cụm từ "hệ thống thư viện số" vì sẽ gây nhầm lẫn khái niệm thư viện số.
PHỤ LỤC I (trang 12)
BẢNG TỔNG HỢP CÁC CHỈ SỐ
Mục 3.3
Độ phủ học liệu của chương trình đào tạo (bản in hoặc bản số)
Tỷ lệ sử dụng học liệu
2) Mức độ đáp ứng các tài liệu trong Danh mục tài liệu môn học thuộc các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục: 90 - 100% tài liệu có trong các bộ sưu tập của thư viện.
3) Tỷ lệ người học được cấp tài khoản thư viện để tiếp cận khai thác tài nguyên của thư viện: 100%.
4) Mức độ sử dụng học liệu của người học:
- Tỷ lệ người học sử dụng học liệu do thư viện cung: 60% người học sử dụng.
- Mức độ sử dụng học liệu môn học thuộc chương trình đào tạo: 90% tài liệu được sử dụng.
2) Chỉ cần tính số tựa đáp ứng. Không nên tính số bản vì khó xác định bao nhiêu là đủ. Nên để tuỳ khả năng của cơ sở giáo dục và nhu cầu của người học nhà trường sẽ mua số bản phù hợp. Hơn nữa, việc mua nhiều bản để trong thư viện phát sinh nhiều chi phí khác liên quan đến diện tích, quản lý, vận hành đối với sách in (sách điện tử thì giới hạn không phải tựa nào cũng có bản điện tử, số hoá thì vi phạm bản quyền).
Thư viện ở các nước phát triển tuỳ theo chính sách phát triển tài nguyên của thư viện, họ chỉ mua từ 1-3 bản.
3) Chỉ số này sẽ thúc đẩy thư viện hiện đại hoá và chuyển đổi số.
4) Thống kê và đánh giá sử dụng mới là cần thiết. Mua đủ, mua nhiều mà không sử dụng hiệu quả thì vô ích.
Mục 3.3 trong phần Hướng dẫn sử dụng các chỉ số (trang 16) Cần xây dựng một công thức tương ứng để có các chỉ số đo được mức độ đáp ứng và tỷ lệ

Viện Nghiên cứu và Phát triển Tri thức số nhận định, so với Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT và Thông tư 14/2023/TT-BGDĐT về tiêu chuẩn thư viện đại học, dự thảo lần thứ hai đang giảm nhiều tiêu chí liên quan đến thư viện.

Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá đối với thư viện đại học hiện chưa có sự thống nhất giữa các văn bản do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như: Thông tư 14/2023/TT-BGDĐT; Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT; Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT; Công văn 1668/QLCL-KĐCLGD ban hành kèm theo Công văn số 768/QLCLKĐCLGD; Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT và Thông tư 12/2024/TT-BGDĐT sửa đổi sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT; Thông tư 04/2025/TT-BGDĐT.

Đặc biệt, quy định về tài nguyên thông tin, học liệu trong dự thảo đang được lồng ghép vào quy định về chương trình đào tạo, trong khi dự thảo mới về chương trình đào tạo năm 2026 chưa quy định cụ thể nội dung này. So với Thông tư 02/2022/TT-BGDĐT về mở ngành đào tạo - văn bản yêu cầu cơ sở giáo dục phải có bản quyền truy cập cơ sở dữ liệu sách, tạp chí khoa học phục vụ đào tạo và nghiên cứu - yêu cầu đối với tài nguyên thông tin trong dự thảo đã được cắt giảm đáng kể. Điều này được chưa phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57 và 71 của Bộ Chính trị.

Không chỉ vậy, việc áp dụng một tiêu chuẩn chung cho tất cả trường đại học và thư viện đại học có thể chưa phù hợp, do các cơ sở có sự khác biệt về quy mô, ngành đào tạo, nguồn lực tài chính, nhân sự và điều kiện cơ sở vật chất.

Vì vậy, Viện Nghiên cứu và Phát triển Tri thức số kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ định đơn vị/cá nhân chuyên trách quản lý Nhà nước liên quan đến thư viện đại học để chỉ đạo hoạt động quản lý, đầu tư, chia sẻ… định hướng phát triển chuyển đổi số hệ thống thư viện đại học trên cả nước để nâng cao chất lượng phục vụ tài nguyên thông tin phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới, sáng tạo và giảm mọi nguồn lực chi phí.

​Viện cũng kiến nghị tăng cường phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quản lý và phát triển hệ thống thư viện đại học.

Ngoài ra, cần thống nhất khái niệm trong dự thảo, đồng thời sử dụng thuật ngữ "tài nguyên thông tin" thay cho "học liệu". Theo đơn vị này, khái niệm "tài nguyên thông tin" có phạm vi bao quát hơn, phù hợp với Luật Thư viện và phản ánh đầy đủ vai trò của thư viện trong phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Tiếp đó, cần phân tầng chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo quy mô, mục tiêu và định hướng phát triển, thay vì áp dụng một bộ chuẩn chung. Theo đó, yêu cầu đối với thư viện và tài nguyên thông tin cũng cần được điều chỉnh tương ứng với từng nhóm cơ sở đào tạo và từng trình độ đào tạo, nghiên cứu. Đồng thời, Viện kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thành lập tổ công tác liên ngành để rà soát, đánh giá vai trò, định hướng phát triển thư viện đại học; đồng thời xây dựng, cập nhật thống nhất các quy định, tiêu chí và tiêu chuẩn liên quan với sự tham gia của các cơ quan quản lý, hiệp hội, cơ sở đào tạo và chuyên gia.

Khánh Hòa