Học bổng 55-84 triệu/năm mới là "điều kiện cần" để thu hút học viên và NCS học khoa học cơ bản

10/07/2026 06:24
Đình Nam

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, cần gắn chính sách học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP với một lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng để thu hút người học các ngành khoa học cơ bản, nhất là ở đào tạo sau đại học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2026 về danh mục các ngành đào tạo thuộc nhóm lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được áp dụng chính sách học bổng của Chính phủ theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ "Quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược".

Theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP, sinh viên theo học các ngành thuộc danh mục được hỗ trợ học bổng từ 37-55 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 3,7-5,5 triệu đồng/tháng. Học viên cao học và nghiên cứu sinh được hỗ trợ từ 55-84 triệu đồng/năm.

Đây được xem là động lực thu hút người học mạnh dạn theo đuổi một số ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật đặc thù vẫn còn khó tuyển sinh trình độ thạc sĩ nhiều năm qua như Toán học, Toán giải tích, Hóa hữu cơ, Sinh học, Vật lý chất rắn, Thủy văn học, Biến đổi khí hậu, Hải dương học, Kỹ thuật địa chất, Kỹ thuật mỏ,...

Học bổng có ý nghĩa chiến lược, nhưng mới chỉ là "điều kiện cần"

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nhấn mạnh, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP là một chính sách rất kịp thời và mang ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao ở nhiều lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Theo thầy Thìn, nhiều năm qua, các ngành như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học,... luôn gặp khó khăn trong tuyển sinh trình độ sau đại học không phải vì chất lượng đào tạo hay giá trị học thuật của ngành, mà chủ yếu do người học phải cân nhắc giữa chi phí học tập, cơ hội việc làm và mức thu nhập sau khi tốt nghiệp.

Việc Nhà nước hỗ trợ học bổng từ 55 đến 84 triệu đồng mỗi năm đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh sẽ góp phần giảm đáng kể gánh nặng tài chính, tạo điều kiện để người học yên tâm theo đuổi con đường nghiên cứu và nâng cao trình độ chuyên môn.

1780364776414.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: HDU

Tuy nhiên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn cũng nhấn mạnh rằng hỗ trợ tài chính chỉ là "điều kiện cần", chưa phải "điều kiện đủ" để tạo sức hút bền vững đối với các ngành vốn khó tuyển sinh.

Trong bối cảnh hiện nay, người học không chỉ quan tâm đến học bổng mà còn cân nhắc triển vọng nghề nghiệp, môi trường nghiên cứu, cơ hội làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu cũng như khả năng phát triển nghề nghiệp lâu dài.

Vì vậy, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, việc cấp học bổng cần được triển khai đồng bộ với các chính sách về sử dụng nhân lực, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo với thị trường lao động, qua đó tạo động lực lâu dài để người học lựa chọn và gắn bó với các ngành khoa học cơ bản và công nghệ chiến lược.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Vương - Giám đốc Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Vật lý chất rắn, Trường Đại học Quy Nhơn cho rằng, Nghị định số 179/2026/NĐ-CP sẽ tạo động lực tích cực cho công tác tuyển sinh sau đại học, đặc biệt ở các ngành khoa học cơ bản như Toán học, Hóa học, Vật lý chất rắn, Sinh học,... vốn nhiều năm qua gặp khó khăn trong việc thu hút người học.

Thầy Vương cho rằng, chính sách hỗ trợ học bổng từ 55 đến 84 triệu đồng/năm đã tác động trực tiếp đến một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là áp lực tài chính. Khoản hỗ trợ này không chỉ giúp người học giảm bớt gánh nặng về chi phí học tập và sinh hoạt trong quá trình theo học mà còn thể hiện sự quan tâm, cam kết đầu tư của Nhà nước đối với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực khoa học nền tảng và công nghệ chiến lược.

Dù vậy, hỗ trợ tài chính mới chỉ là điều kiện cần, chưa đủ để tạo ra sự thay đổi căn bản trong quyết định lựa chọn học lên trình độ thạc sĩ, tiến sĩ của người học. Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh học phí và học bổng, người học còn đặc biệt quan tâm đến triển vọng nghề nghiệp, môi trường nghiên cứu, điều kiện học tập cũng như cơ hội phát triển sau khi tốt nghiệp.

z8006101532144-4c3c95bbac74c6bd19e32ddc0cd4e7ea.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Vương - Giám đốc Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Vật lý chất rắn, Trường Đại học Quy Nhơn. Ảnh: NVCC

“Để chính sách này phát huy hiệu quả thực sự, qua đó nâng cao sức hút của các ngành khoa học cơ bản một cách bền vững, các cơ sở đào tạo cần đồng thời nâng cao chất lượng chương trình, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn và mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho học viên sau tốt nghiệp”, Giám đốc Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Vật lý chất rắn, Trường Đại học Quy Nhơn bày tỏ.

Trong khi đó, Thạc sĩ Đàm Minh Anh - Phó Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) khẳng định, thực tế nhiều ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật đặc thù gặp khó khăn trong tuyển sinh không chỉ do chi phí đào tạo mà còn bởi cơ hội việc làm chưa thật sự rõ ràng, sức hấp dẫn của thị trường lao động còn hạn chế.

Vì vậy, để chính sách học bổng không chỉ tạo sức hút trong ngắn hạn mà thực sự góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, từ đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo đến cơ sở vật chất, đồng thời gắn hoạt động đào tạo với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước và của doanh nghiệp.

Song song với đó, cần xây dựng các chính sách sử dụng, thu hút và phát triển nguồn nhân lực sau tốt nghiệp, tạo môi trường làm việc thuận lợi, chế độ đãi ngộ phù hợp cùng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng để người học yên tâm lựa chọn và gắn bó lâu dài với các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật đặc thù.

hoc-bong.jpg
Một số ngành đào tạo được áp dụng chính sách học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Ảnh chụp màn hình

Cần gắn chính sách học bổng với một lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng

Để chính sách học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP phát huy hiệu quả bền vững, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn khẳng định cần xây dựng một hệ sinh thái chính sách đồng bộ thay vì chỉ tập trung hỗ trợ trong giai đoạn đào tạo.

Theo thầy Thìn, điều quan trọng trước tiên là phải có cơ chế đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp đối với những ngành đang thiếu hụt nhân lực, qua đó giúp người học nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp và cơ hội việc làm rõ ràng sau khi tốt nghiệp, từ đó mạnh dạn lựa chọn theo học.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đầu tư cho hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và triển khai nhiều đề tài, dự án khoa học để học viên cao học và nghiên cứu sinh có điều kiện tham gia nghiên cứu ngay trong quá trình học tập, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiên cứu.

Đồng thời, cần có các chính sách ưu tiên tuyển dụng, hỗ trợ nghiên cứu sau tốt nghiệp, tạo điều kiện để người học tiếp tục học lên trình độ cao hơn hoặc tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp.

“Nếu học bổng giúp thu hút người học thì môi trường học thuật, cơ hội nghề nghiệp và chính sách phát triển nhân lực sẽ quyết định việc giữ chân và phát triển họ lâu dài.

Yếu tố quan trọng nhất là tuyển đúng người và đồng hành cùng người học trong suốt quá trình đào tạo. Các trường cần xây dựng quy trình tuyển chọn minh bạch, đánh giá không chỉ kết quả học tập mà còn năng lực nghiên cứu, tinh thần sáng tạo và định hướng nghề nghiệp của người học.

Ngoài ra, cần phát triển cơ chế cố vấn học thuật, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo điều kiện để học viên tham gia đề tài khoa học, công bố quốc tế và kết nối với doanh nghiệp.

Quan trọng hơn, người học cần nhìn thấy lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng sau khi tốt nghiệp. Khi có môi trường học thuật tốt, có cơ hội cống hiến và phát triển bản thân, họ sẽ chủ động gắn bó lâu dài với lĩnh vực mình lựa chọn”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nói.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Vương, để chính sách học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP không chỉ góp phần gia tăng số lượng tuyển sinh mà còn thu hút đúng những người học có năng lực, đam mê nghiên cứu và sẵn sàng gắn bó lâu dài với các lĩnh vực đang thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, các cơ sở đào tạo cần xem đây không đơn thuần là một chính sách hỗ trợ tài chính mà phải là một mắt xích trong chiến lược phát hiện, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Giám đốc Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Vật lý chất rắn, Trường Đại học Quy Nhơn nhận định, việc tuyển chọn người học cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện, không chỉ dựa vào kết quả đầu vào mà còn xem xét năng lực học thuật, tiềm năng nghiên cứu, định hướng phát triển và mức độ cam kết với ngành học.

Bên cạnh đó, các trường đại học cần xây dựng một môi trường học thuật và nghiên cứu thực chất, nơi người học được tham gia vào các nhóm nghiên cứu mạnh, được giảng viên hướng dẫn sát sao, được tiếp cận các đề tài gắn với nhu cầu thực tiễn, đồng thời có cơ hội công bố kết quả nghiên cứu và mở rộng hợp tác trong nước cũng như quốc tế.

“Khi người học cảm nhận được rằng họ đang được đầu tư để phát triển năng lực một cách bài bản và có điều kiện khẳng định giá trị chuyên môn, họ sẽ có thêm động lực để gắn bó lâu dài với lĩnh vực mình theo đuổi.

Ngoài ra, cần gắn chính sách học bổng với một lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng thông qua việc mở rộng cơ hội làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ cao hoặc tham gia các chương trình, dự án khoa học và công nghệ trọng điểm.

Học bổng chỉ nên được xem là "điểm khởi đầu" để thu hút những người học giỏi đến với các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật đặc thù. Yếu tố quyết định để giữ chân họ trong dài hạn chính là một môi trường học thuật chất lượng, cơ hội nghề nghiệp rõ ràng cùng niềm tin rằng con đường nghiên cứu và phát triển chuyên môn mà họ lựa chọn sẽ mang lại những giá trị và triển vọng bền vững trong tương lai”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Vương chia sẻ.

snapedit-1783327127576.jpg
Học viên ngành Hóa học tại Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: website nhà trường

Trong trường hợp số lượng học viên đăng ký vào các ngành khoa học cơ bản được hỗ trợ học bổng tăng lên trong thời gian tới, Thạc sĩ Đàm Minh Anh nhấn mạnh các cơ sở đào tạo cần chủ động nâng cao năng lực để vừa đáp ứng quy mô tuyển sinh, vừa bảo đảm chất lượng đào tạo.

Trong đó, yếu tố then chốt trước tiên là phát triển đội ngũ giảng viên thông qua các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật công nghệ mới, đồng thời tăng cường hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế để nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy.

Cùng với đó, cần có các dự án đầu tư bài bản nhằm hiện đại hóa hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành và các trung tâm nghiên cứu, tạo điều kiện để người học được tiếp cận môi trường học tập, nghiên cứu tiên tiến. Bên cạnh việc nâng cao năng lực nội tại, các trường cũng cần đẩy mạnh kết nối với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và địa phương để mở rộng cơ hội thực tập, tham gia các dự án thực tế và tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.

“Đối với các ngành khoa học cơ bản, điều quan trọng là giúp người học nhìn thấy triển vọng nghề nghiệp, cơ hội tiếp tục học lên, tham gia nghiên cứu và làm việc trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, qua đó tạo niềm tin và động lực để họ gắn bó lâu dài với ngành”, Phó Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) chia sẻ.

Đình Nam