Quyết định ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lí dữ liệu đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành Giáo dục trong việc xác định dữ liệu là tài sản cốt lõi để đổi mới căn bản, toàn diện công tác quản lí nhà nước và nâng cao chất lượng dạy và học.
Vận hành dựa trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, an toàn và thông minh
Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lí dữ liệu (Phiên bản 1.0) được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ các hoạt động quản lí nhà nước, chỉ đạo điều hành và dịch vụ công của ngành Giáo dục sẽ vận hành dựa trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, an toàn và thông minh.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu số hóa và định danh 100% dữ liệu về người học, nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục, cơ sở giáo dục, học bạ số, văn bằng chứng chỉ số được số hóa, chuẩn hóa và tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục đào tạo. Đồng thời, thực hiện nguyên tắc “cung cấp thông tin một lần”, giúp giảm thiểu thủ tục hành chính và nâng cao trải nghiệm của người dân.
Quản trị dữ liệu tập trung và nhất quán
Kiến trúc dữ liệu mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm 5 lớp chính. Trong đó, lớp người sử dụng bao gồm người dân, cán bộ giáo dục, các cơ quan nhà nước và tổ chức liên quan. Lớp truy cập và dịch vụ cung cấp kênh tương tác qua API chuẩn hóa, Cổng dịch vụ công và các hệ thống báo cáo thông minh. Lớp tích hợp và liên thông sử dụng nền tảng LGSP/LDOP của Bộ để kết nối với nền tảng quốc gia thông qua các cổng điều phối dữ liệu tại chỗ. Lớp lưu trữ và xử lí là lõi của kiến trúc, nơi tiếp nhận, làm sạch và tổ chức dữ liệu thành các kho dữ liệu dùng chung. Lớp quản trị và quản lý thiết lập các quy tắc về thể chế, tổ chức và quy trình vận hành để đảm bảo dữ liệu luôn "Đúng - Đủ - Sạch - Sống".
Điểm nổi bật trong kiến trúc này là việc áp dụng mô hình lưu trữ theo từng tầng HOT - WARM - COLD và khu vực Data Lake. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu năng hệ thống mà còn tạo môi trường lý tưởng để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (ML) trong việc phân tích dự báo quy mô người học, nhu cầu nguồn nhân lực và hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng dữ liệu (data-driven).
Loại bỏ tình trạng phân mảnh, trùng lặp dữ liệu
Khung quản trị và quản lí dữ liệu quy định mô hình quản trị tập trung tại cấp Bộ và phân cấp thực thi tại địa phương, đơn vị.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thiết lập mô hình quản trị dữ liệu 2 cấp:
Cấp 1 gồm các vai trò quản lí dữ liệu như Ban Chỉ đạo về dữ liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo; người chịu trách nhiệm quản trị, quản lí dữ liệu tham mưu, tư vấn, thẩm định và giúp việc Ban Chỉ đạo về dữ liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo về các nội dung liên quan đến quản trị dữ liệu.
Cấp 2 gồm các sở Giáo dục và Đào tạo, các Cục/Vụ chuyên môn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện, trường đại học, cao đẳng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các đơn vị này chịu trách nhiệm thực thi tại địa phương, đơn vị, đảm bảo dữ liệu luôn “Đúng - Đủ - Sạch - Sống” ngay từ nguồn.
Hệ thống quản lí sẽ dựa trên nguồn dữ liệu tin cậy duy nhất, loại bỏ tình trạng phân mảnh, trùng lặp dữ liệu vốn là rào cản trong nhiều năm qua.
Nội dung quản lí tập trung vào quản lí chất lượng dữ liệu, thiết lập các chỉ số KPI/KQI để đo lường tính đầy đủ, chính xác, kịp thời và nhất quán của dữ liệu. Quản lí dữ liệu chủ và danh mục dùng chung bằng việc xây dựng nguồn dữ liệu tin cậy duy nhất để tránh trùng lặp và sai lệch thông tin. Đồng thời, xây dựng văn hóa dữ liệu, thúc đẩy việc ra quyết định dựa trên bằng chứng dữ liệu và nâng cao năng lực phân tích cho đội ngũ cán bộ.
Kiến trúc an toàn dữ liệu 8 lớp; triển khai 2 giai đoạn
Trong bối cảnh thách thức về an ninh mạng ngày càng lớn, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Kiến trúc an toàn dữ liệu 8 lớp gồm: bảo vệ dữ liệu gốc; phân loại và gán nhãn; quản lý truy cập và mã hóa; che giấu dữ liệu (masking); giám sát và đánh giá; kiểm soát pháp lí; công cụ kĩ thuật bảo mật; báo cáo và đánh giá định kì.
Mọi hoạt động khai thác dữ liệu đều được kiểm soát nghiêm ngặt, tuân thủ Luật An toàn thông tin mạng và quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định lộ trình thực hiện qua hai giai đoạn then chốt. Giai đoạn 1 (2026-2027), tập trung kiện toàn mô hình tổ chức quản trị dữ liệu 2 cấp, xây dựng và tiếp tục hoàn thiện danh mục dữ liệu dùng chung thống nhất và từ điển nghiệp vụ giáo dục đào tạo làm cơ sở để tổ chức, phân loại và làm sạch dữ liệu.
Giai đoạn 2 (2027-2030) mở rộng liên thông toàn diện, tối ưu hóa và thúc đẩy khai thác dữ liệu thông minh, ứng dụng mạnh mẽ AI để tạo ra các giá trị gia tăng cho ngành.