Vì sao cùng vị trí việc làm nhưng thu nhập giáo viên vẫn có sự chênh lệch lớn?

15/07/2026 08:46
Phan Tuyết

GDVN - Một thực tế được nhiều giáo viên nhắc đến là khoảng cách thu nhập khá lớn giữa giáo viên trẻ có năng lực và giáo viên có nhiều năm công tác.

Suốt nhiều năm công tác trong trường học, tôi nhận thấy một thực tế khiến không ít giáo viên "tâm tư". Bảng phân công chuyên môn của giáo viên trong cùng một tổ gần như đảm nhiệm các công việc tương đồng: cùng đứng lớp, cùng định mức tiết dạy, cùng làm công tác chủ nhiệm (nếu được phân công), cùng dự giờ, sinh hoạt chuyên môn, kiểm tra, đánh giá học sinh và thực hiện các nhiệm vụ do nhà trường giao.

Nếu chỉ nhìn vào công việc hằng ngày rất khó để biết ai đang hưởng hệ số lương 3,33, ai hưởng 4,0 hay ai đang nhận mức lương cao gấp hai, thậm chí gần ba lần đồng nghiệp.

Điều này khiến không ít giáo viên băn khoăn là cùng đảm nhiệm một vị trí việc làm với yêu cầu và trách nhiệm tương đồng nhưng lại có khoảng cách thu nhập lớn. Điều này đã thực sự hợp lý hay chưa?

Đây cũng là vấn đề được nhiều nhà giáo quan tâm khi Luật Nhà giáo không còn quy định chia hạng với giáo viên. Tiếp đó, Nghị định số 232/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rất rõ việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm và chia thành các bậc nghề nghiệp.

23.jpg
Ảnh minh hoạ

Khoảng cách thu nhập giữa các giáo viên trong cùng một tổ chuyên môn

Hiện nay, thu nhập giữa các giáo viên trong cùng một tổ chuyên môn vẫn có thể chênh lệch khá lớn. Nguyên nhân chủ yếu không nằm ở khối lượng công việc hằng ngày mà xuất phát từ hạng chức danh nghề nghiệp và thời gian công tác được tích lũy qua nhiều năm.

Thực tế tại nhiều trường học cho thấy có giáo viên vẫn ở hạng III với hệ số lương 3,33 nhưng nhiều năm liền đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, là giáo viên cốt cán chuyên môn cấp tỉnh, đảm nhiệm vai trò tổ trưởng chuyên môn và được đồng nghiệp đánh giá cao về năng lực.

Trong khi đó, một giáo viên khác cùng được tuyển dụng trong cùng thời điểm nhưng do đáp ứng điều kiện thăng hạng sớm hơn (giáo viên hạng II) hoặc có lộ trình khác nên hiện hưởng hệ số lương khoảng 4,0.

Mặc dù cùng giảng dạy, cùng thực hiện chương trình giáo dục, cùng chịu trách nhiệm về chất lượng học sinh và hoàn thành các nhiệm vụ của nhà trường, nhưng thu nhập giữa họ vẫn có khoảng cách khá lớn. Đây là điều khiến nhiều giáo viên không khỏi trăn trở.

Khoảng cách thu nhập giữa giáo viên trẻ có năng lực và giáo viên nhiều năm công tác

Một thực tế khác cũng được nhiều giáo viên nhắc đến là khoảng cách thu nhập khá lớn giữa giáo viên trẻ có năng lực và giáo viên có nhiều năm công tác.

Chẳng hạn, một cô giáo mới vào nghề vài năm nhưng đã có bằng thạc sĩ, đạt chuẩn ngoại ngữ B1, thành thạo công nghệ thông tin và biết ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế bài giảng, xây dựng học liệu, hỗ trợ đồng nghiệp trong chuyển đổi số.

Trong công tác chủ nhiệm và các phong trào của nhà trường, cô luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, sẵn sàng nhận thêm nhiều công việc chung khi cần thiết.

Khối lượng công việc cô đảm nhận không hề ít hơn đồng nghiệp, thậm chí ở một số thời điểm còn nhiều hơn, nhưng thu nhập mỗi tháng chỉ khoảng 8 triệu đồng.

Trong khi đó, một giáo viên có khoảng 30 năm công tác, cũng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh theo quy định, có thể nhận mức lương và phụ cấp khoảng 20 triệu đồng mỗi tháng.

Đương nhiên, người có nhiều năm cống hiến xứng đáng được ghi nhận. Kinh nghiệm nghề nghiệp, sự bền bỉ và những đóng góp trong suốt quá trình công tác là những giá trị không thể phủ nhận. Tuy nhiên, điều nhiều giáo viên mong muốn không phải là thu hẹp khoảng cách bằng cách "cào bằng" thu nhập, mà là cơ chế tiền lương cần phản ánh hài hòa hơn giữa kinh nghiệm, yêu cầu của vị trí việc làm và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt, trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi tất cả giáo viên đều phải thường xuyên tự học, đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và thích ứng với quá trình chuyển đổi số, thì năng lực thực hiện công việc ngày càng trở thành yếu tố quan trọng.

Kỳ vọng cơ chế tiền lương theo vị trí việc làm sẽ bảo đảm công bằng hơn

Nghị định số 232/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức đã quy định rõ danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm. Nhiều giáo viên kỳ vọng khi chính sách tiền lương theo vị trí việc làm được triển khai sẽ góp phần khắc phục những bất cập đang tồn tại trong cơ chế tiền lương hiện nay.

Theo đó, đối với những giáo viên cùng đảm nhiệm một vị trí việc làm, cùng đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo, cùng thực hiện định mức giảng dạy và trách nhiệm nghề nghiệp tương đương, mức lương cơ bản cần được thiết kế theo hướng hợp lý và công bằng hơn.

Sự khác biệt về thu nhập nên được tạo ra chủ yếu từ mức độ hoàn thành nhiệm vụ, kết quả thực hiện công việc, thành tích chuyên môn, sáng kiến, năng lực nghề nghiệp hoặc các nhiệm vụ đặc thù được giao.

Theo người viết, chính sách tiền lương hợp lý không có nghĩa mọi giáo viên đều hưởng mức lương như nhau. Điều quan trọng là bảo đảm sự công bằng giữa những người cùng đảm nhiệm một vị trí việc làm, đồng thời tạo động lực để mỗi nhà giáo thấy sự nỗ lực và cống hiến của mình được ghi nhận, qua đó tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Phan Tuyết