Dự kiến không áp dụng tiêu chí công bố khoa học đối với giảng viên trường nghệ thuật: CSGD nói gì?

13/07/2026 06:22
Hồng Linh

GDVN - Việc đánh giá chất lượng của các cơ sở giáo dục đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật cần phản ánh đúng đặc trưng của quá trình đào tạo, không chỉ điều chỉnh bằng hệ số quy đổi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, dự kiến thay thế Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT. Đáng chú ý, điểm d, Khoản 1, Điều 9 nêu, đối với các cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực Nghệ thuật: Không áp dụng tiêu chí 6.2.

6. Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo
6.1
Tỉ trọng thu khoa học - công nghệ
(chỉ áp dụng đối với cơ sở GDĐH có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù)
≥ 5%
6.2
1. Số công bố trên giảng viên


- Đối với cơ sở GDĐH có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù
≥ 0,3

≥ 0,6


2. Số công bố WoS, Scopus trên giảng viên
(chỉ áp dụng đối với cơ sở GDĐH có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù)
≥ 0,3

Lãnh đạo một số trường đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật nhận định, quy định trên là phù hợp với đặc thù ngành, đồng thời đề xuất bổ sung các chỉ số phản ánh kết quả hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sáng tạo nghệ thuật đối với những cơ sở giáo dục đại học trên.

Xây dựng phụ lục riêng về các chỉ số đặc thù đối với trường nghệ thuật

Bàn luận về Tiêu chuẩn 6 trong dự thảo, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phan Lê Chung - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Nghệ thuật (Đại học Huế) cho biết, đối với Tiêu chuẩn 6, Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT Ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học sử dụng tên gọi “Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo”, dự thảo đổi thành “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” đã xác định rõ trọng tâm, đối tượng và định hướng cụ thể hơn cho các cơ sở giáo dục.

Đặc biệt, dự thảo quy định, đối với các cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực Nghệ thuật không áp dụng tiêu chí 6.2. Thực tế, vấn đề công bố khoa học nói chung, đặc biệt là việc tiếp cận với các công bố WoS, Scopus đối với giảng viên lĩnh vực Nghệ thuật vẫn đang gặp nhiều khó khăn.

Vướng mắc trước hết đến từ đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Quá trình sáng tác đòi hỏi cảm hứng, trải nghiệm và sự thăng hoa trong cảm xúc để tạo nên tác phẩm. Trong khi đó, đối với các công bố WoS, Scopus cần những nguyên tắc và quy chuẩn nhất định trong khuôn khổ về dung lượng, số liệu, cấu trúc, phương pháp nghiên cứu… Điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến công việc sáng tác và thực hành nghề nghiệp, khiến giảng viên khó có thể dành nguồn lực cho cả sáng tác và công bố quốc tế.

Bên cạnh đó, trong môi trường đào tạo nghệ thuật, năng lực của giảng viên thường được khẳng định thông qua các tác phẩm sáng tạo, hoạt động biểu diễn, triển lãm và uy tín nghề nghiệp. Đây cũng là những yếu tố được người học đánh giá cao, vì phản ánh trực tiếp trình độ chuyên môn và khả năng truyền nghề của giảng viên.

Tiến sĩ Phan Lê Chung phân tích, nếu không sử dụng tiêu chí công bố khoa học quốc tế để đánh giá các cơ sở đào tạo đặc thù, cần xây dựng cơ chế quy đổi phù hợp với đặc thù của lĩnh vực Nghệ thuật. Có thể quy đổi thành các sản phẩm khác phù hợp với năng lực đặc thù nghề nghiệp hoặc chuyển đổi thành các bài báo trong nước nhưng tăng số lượng.

Ví dụ, các bài báo trong nước có chỉ số 0.5 - 0.75 (có thể tăng số lượng phù hợp); quy đổi các giải thưởng nghệ thuật trong nước và quốc tế; các triển lãm uy tín trong nước và quốc tế như triển lãm toàn quốc, triển lãm khu vực thường niên, các biennale (sự kiện nghệ thuật diễn ra hai năm một lần - PV) nghệ thuật quốc tế…

Song song với đó, các trường nghệ thuật cũng cần chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm học thuật (workshop) nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, qua đó từng bước nâng cao chất lượng nghiên cứu và hội nhập học thuật quốc tế.

ds7.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Nghệ thuật (Đại học Huế).

Cùng bàn luận về nội dung này, Tiến sĩ Phạm Huy Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Với tiêu chí 6.2 về công bố khoa học, dự thảo quy định không áp dụng đối với lĩnh vực Nghệ thuật. Tuy nhiên, thay vì chỉ miễn áp dụng, đề nghị nghiên cứu bổ sung các chỉ số phản ánh kết quả hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sáng tạo nghệ thuật như tác phẩm nghệ thuật, chương trình biểu diễn, phim, triển lãm, công trình sáng tạo, giải thưởng chuyên môn, sản phẩm chuyển giao, sản phẩm phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa và các sản phẩm sáng tạo khác.

Việc xây dựng phụ lục riêng về các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật sẽ tạo cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện hơn, bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước, phản ánh đúng đặc trưng của đào tạo nghệ thuật, phù hợp với chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa và định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Văn hóa, nghệ thuật".

Ngoài ra, với các chỉ số sử dụng để xác định mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí quy định tại Điều 6 của Thông tư được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo dự thảo, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh đưa ý kiến, dự thảo quy định hệ thống chỉ số chung tại Phụ lục I và ban hành các phụ lục chỉ số đặc thù đối với lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe. Đối với lĩnh vực Nghệ thuật, dự thảo đã có một số quy định riêng như tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, miễn áp dụng tiêu chí 6.2 và áp dụng các hệ số quy đổi theo lĩnh vực đào tạo. Mặc dù vậy, dự thảo chưa xây dựng hệ thống chỉ số đặc thù riêng đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật.

Đơn vị đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung phụ lục "Các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật", đi cùng với quy định hoặc hướng dẫn áp dụng riêng đối với một số chỉ số phản ánh điều kiện bảo đảm chất lượng và phương thức tổ chức đào tạo của lĩnh vực Nghệ thuật.

Lĩnh vực Nghệ thuật có đặc điểm riêng biệt so với nhiều lĩnh vực đào tạo khác, thể hiện ở phương thức đào tạo theo hướng truyền nghề, cá thể hóa, lấy thực hành, sáng tạo và biểu diễn làm trung tâm. Phần lớn hoạt động đào tạo được tổ chức tại sân khấu, trường quay, phòng thu, xưởng thực hành, không gian sáng tạo hoặc các thiết chế văn hóa; việc đánh giá chất lượng vì vậy cần phản ánh đúng đặc trưng của quá trình đào tạo chứ không chỉ điều chỉnh bằng hệ số quy đổi.

dien-vien-1.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường nghệ thuật vẫn còn một số băn khoăn đối với dự thảo

Dưới góc nhìn của Tiến sĩ Phan Lê Chung, những thay đổi dự kiến trong dự thảo về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học nếu được đi vào thực tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các trường lĩnh vực Nghệ thuật có một “khoảng đệm” để kịp thời bổ sung và hoàn thiện các tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học cho giảng viên.

Qua đây, các trường thuộc lĩnh vực Nghệ thuật cũng cần phải chú trọng hơn trong việc thay đổi các định hướng chiến lược và phát triển đội ngũ, chú trọng hơn trong việc trang bị các kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học cho giảng viên, gắn KPI trong các hoạt động thi đua, khen thưởng và bình xét đánh giá cuối năm. Cùng với đó, cần có lộ trình phù hợp để các trường chuẩn bị các nguồn lực cần thiết nhằm phát triển đội ngũ giảng viên nghiên cứu khoa học mạnh.

Về phía Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Phạm Huy Quang nêu băn khoăn với quy định tại Điều 6, Tiêu chuẩn 2: Giảng viên và các Phụ lục liên quan đến đánh giá đội ngũ giảng viên.

Dự thảo quy định các tiêu chí đánh giá đội ngũ giảng viên chủ yếu dựa trên trình độ đào tạo, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ và các điều kiện bảo đảm chất lượng theo học vị, chưa có quy định phản ánh đặc thù về đội ngũ giảng viên trong lĩnh vực Nghệ thuật.

Nhà trường đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung các chỉ số đặc thù về chất lượng đội ngũ giảng viên đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật trong Phụ lục chỉ số đặc thù của Thông tư. Bổ sung cơ chế ghi nhận hoặc quy đổi phù hợp đối với đội ngũ giảng viên là Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế hoặc chuyên gia có uy tín nghề nghiệp cao khi đánh giá điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật.

"Đào tạo nghệ thuật gắn với phương thức truyền nghề và thực hành nghề nghiệp. Chất lượng đội ngũ giảng viên không chỉ được phản ánh thông qua học vị mà còn thể hiện ở năng lực sáng tạo, thành tựu nghệ thuật, uy tín nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tiễn. Nhiều Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú và nghệ sĩ có thành tích chuyên môn xuất sắc là lực lượng trực tiếp tham gia đào tạo, hướng dẫn thực hành, dàn dựng, biểu diễn và truyền nghề, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học.

Mặc dù vậy, các yếu tố này hiện chưa được phản ánh trong hệ thống chỉ số đánh giá điều kiện bảo đảm chất lượng. Việc nghiên cứu bổ sung các chỉ số đặc thù hoặc cơ chế ghi nhận phù hợp đối với đội ngũ nghệ sĩ sẽ góp phần đánh giá toàn diện hơn chất lượng đội ngũ giảng viên trong lĩnh vực Nghệ thuật, trong khi vẫn bảo đảm nguyên tắc không thay thế hoặc không đồng nhất danh hiệu nghề nghiệp với trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật" - thầy Quang phân tích.

Đồng thời, qua rà soát Phụ lục I, Tiến sĩ Phạm Huy Quang chỉ ra, một số chỉ số cần được nghiên cứu quy định riêng hoặc có hướng dẫn áp dụng đối với lĩnh vực nghệ thuật. Cụ thể, Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất, tiêu chí 3.3 về học liệu, dự thảo quy định "bảo đảm độ phủ học liệu của các chương trình đào tạo đang triển khai đạt 100%".

Trong khi đó, nhiều học phần thực hành nghệ thuật sử dụng học liệu dưới dạng kịch bản, bản nhạc, phim, tác phẩm nghệ thuật, hồ sơ thiết kế, tư liệu biểu diễn, học liệu số và các tư liệu chuyên ngành khác thay cho giáo trình và sách chuyên khảo theo nghĩa truyền thống. Nguồn học liệu chính thống của nhiều chuyên ngành nghệ thuật vẫn còn hạn chế. Vì thế, cần có hướng dẫn riêng về khái niệm và cách xác định "độ phủ học liệu" đối với lĩnh vực nghệ thuật theo hướng công nhận đầy đủ các loại học liệu đặc thù và đánh giá trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của từng học phần.

Tiêu chí 3.4 về hệ thống học tập số, dự thảo quy định "bảo đảm 100% giảng viên và người học được cấp tài khoản truy cập hợp lệ và tối thiểu 90% người học có phát sinh hoạt động học tập trên hệ thống học tập số trong năm học".

Đối với nhiều ngành nghệ thuật, phần lớn hoạt động đào tạo được tổ chức thông qua luyện tập, biểu diễn, sáng tác, quay phim, dàn dựng và thực hành trực tiếp; không phải tất cả học phần đều phù hợp triển khai trên hệ thống LMS và không phải tất cả giảng viên đều trực tiếp giảng dạy các học phần sử dụng hệ thống này. Do đó, cần nghiên cứu quy định hoặc hướng dẫn linh hoạt hơn về phương pháp xác định các chỉ số liên quan đến hệ thống học tập số đối với lĩnh vực nghệ thuật.

Hồng Linh