Nhu cầu văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh lớn và yêu cầu cần rà soát chất lượng đào tạo

16/07/2026 06:42
Thi Thi

GDVN - Sau một số vụ án liên quan đến đào tạo, cấp chứng chỉ và văn bằng đại học thứ hai ngành Ngôn ngữ Anh, nhiều chuyên gia cho rằng cần rà soát toàn diện để bảo đảm mỗi tấm bằng phản ánh đúng năng lực người học.

​Một số chuyên gia nhìn nhận, việc một số lãnh đạo cơ sở giáo dục thời gian qua bị xử lý hình sự do sai phạm trong đào tạo, cấp chứng chỉ và văn bằng liên quan tiếng Anh đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về công tác quản lý đối văn bằng 2 ngành Ngôn ngữ Anh.

Văn bằng chỉ có giá trị khi phản ánh đúng năng lực của người học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo - nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo (nay là Học viện Quản lý Giáo dục) nhìn nhận, nhu cầu học văn bằng thứ hai, đặc biệt là ngành Ngôn ngữ Anh phản ánh nhu cầu có thật của xã hội.

Tuy nhiên, một thực tế khác là có người học văn bằng thứ hai chủ yếu để đáp ứng yêu cầu về hồ sơ, tiêu chuẩn tuyển dụng, học sau đại học hoặc các điều kiện nghề nghiệp. Chính nhu cầu này tạo ra một "thị trường" khá lớn. Nếu cơ sở đào tạo chỉ nhìn thấy nhu cầu đó như một cơ hội kinh doanh thì rất dễ dẫn đến tuyển sinh dễ dãi, đào tạo hình thức. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo lo ngại, khi cả người học lẫn cơ sở đào tạo đều đặt nặng mục tiêu có tấm bằng hơn là năng lực thực chất thì chất lượng giáo dục sẽ bị ảnh hưởng.

Bên cạnh đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo, những vụ việc liên quan đến đào tạo, cấp chứng chỉ và văn bằng ngôn ngữ Anh khiến một số lãnh đạo trường đại học bị xử lý hình sự trong thời gian qua là lời cảnh báo rất nghiêm khắc. Điều đó cho thấy chúng ta không thể buông lỏng quản lý đối với loại hình đào tạo này.

"Nhu cầu xã hội là có thật, vì vậy việc các trường tổ chức tuyển sinh, đào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có cơ chế quản lý đủ chặt để bảo đảm chất lượng đào tạo, bảo vệ quyền lợi của người học và bảo đảm mọi hoạt động được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Thực tế từ những vụ việc đã bị xử lý cho thấy, khi người đứng đầu cơ sở đào tạo cố tình lợi dụng những kẽ hở của cơ chế, chính sách để trục lợi thì không chỉ là trách nhiệm của cá nhân vi phạm mà còn phản ánh những khoảng trống trong công tác quản lý. Những lỗ hổng đó cần sớm được rà soát, khắc phục bằng các quy định rõ ràng hơn và cơ chế thanh tra, hậu kiểm hiệu quả hơn", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh.

images-1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo - nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo (nay là Học viện Quản lý Giáo dục). Ảnh: NVCC.

Theo Phó Giáo sư Đặng Quốc Bảo, các cơ sở giáo dục cũng cần công khai đầy đủ các thông tin về chỉ tiêu, kết quả tuyển sinh, điều kiện bảo đảm chất lượng để xã hội cùng giám sát. Khi mọi dữ liệu được minh bạch, người học sẽ có thêm cơ sở lựa chọn, còn các trường cũng sẽ có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn uy tín và thương hiệu của mình. Nếu để văn bằng thứ hai chỉ còn là công cụ tạo nguồn thu thì cuối cùng thiệt hại không chỉ thuộc về người học mà còn ảnh hưởng đến uy tín của cả hệ thống giáo dục đại học.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo nhìn nhận thêm, giáo dục đại học không thể đánh đổi chất lượng lấy số lượng. Văn bằng chỉ có giá trị khi phản ánh đúng năng lực của người học và được xã hội tin tưởng. Vì vậy, quản lý chặt chẽ đào tạo văn bằng thứ hai không phải để hạn chế quyền tự chủ của các trường mà để bảo đảm quyền lợi của người học và giữ gìn chất lượng của cả hệ thống giáo dục đại học.

Nếu mục tiêu kinh tế lấn át mục tiêu học thuật, giá trị của văn bằng sẽ bị ảnh hưởng

Ở góc độ tuyển sinh, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, nhu cầu học văn bằng thứ hai ngành Ngôn ngữ Anh hiện nay là có thật và vẫn ở mức cao. Không ít người đã có một bằng đại học nhưng nhận thấy ngoại ngữ là điều kiện để thăng tiến, đáp ứng yêu cầu tuyển dụng hoặc chuyển đổi nghề nghiệp nên tiếp tục học thêm. Vì vậy, việc các trường tổ chức đào tạo văn bằng thứ hai là phù hợp với nhu cầu xã hội.

Tuy nhiên, nhu cầu lớn không có nghĩa là mở rộng quy mô tuyển sinh bằng mọi giá. Chỉ tiêu cần được xác định trên cơ sở năng lực đào tạo thực tế, từ đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất đến hệ thống kiểm tra, đánh giá. Nếu quy mô tuyển sinh tăng nhanh nhưng các điều kiện bảo đảm chất lượng không theo kịp thì rất khó duy trì chất lượng đầu ra.

Bên cạnh đó, những vụ án lãnh đạo cơ sở giáo dục vướng vòng lao lý liên quan đến đào tạo, cấp chứng chỉ hoặc văn bằng ngoại ngữ xảy ra trong thời gian qua cũng là lời cảnh báo đối với toàn hệ thống. Đây không phải là câu chuyện của riêng một vài cơ sở đào tạo mà đặt ra yêu cầu tăng cường quản trị đại học, minh bạch quy trình tuyển sinh và đào tạo, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của các trường.

khi-thi-sinh-chon-trai-nghiem-thay-vi-chi-chon-danh-tieng.jpg
Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

"Nếu coi đây là thị trường mang lại nguồn thu lớn, tổ chức tuyển sinh quá dễ dãi, hạ thấp điều kiện đầu vào hoặc buông lỏng khâu tổ chức đào tạo thì rất khó bảo đảm chất lượng đầu ra. Khi mục tiêu kinh tế lấn át mục tiêu học thuật, giá trị của văn bằng sẽ bị ảnh hưởng và cuối cùng người học là đối tượng chịu thiệt.

Theo tôi, cơ quan quản lý cần giám sát chặt chẽ từ khâu tuyển sinh đến quá trình đào tạo, trong đó tăng cường giám sát bằng dữ liệu. Hiện nay, nhiều thông tin về tuyển sinh, người học và cấp bằng đã được số hóa. Nếu các dữ liệu này được kết nối đồng bộ, cơ quan quản lý có thể theo dõi quy mô tuyển sinh của từng trường, đối chiếu với năng lực đào tạo đã được phê duyệt để kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường", Thạc sĩ Sơn nhìn nhận.

Ngoài ra, cần công khai hơn nữa các thông tin về chỉ tiêu, số lượng trúng tuyển, tỷ lệ tốt nghiệp, đội ngũ giảng viên và kết quả kiểm định chất lượng. Khi thông tin minh bạch, người học sẽ có cơ sở lựa chọn chương trình phù hợp, đồng thời tạo áp lực để các trường cạnh tranh bằng chất lượng thay vì chỉ cạnh tranh bằng quy mô tuyển sinh.

Về lâu dài, văn bằng thứ hai chỉ thực sự có giá trị khi phản ánh đúng năng lực của người học và được thị trường lao động công nhận. Vì vậy, điều quan trọng không phải là tuyển được bao nhiêu người học mà là đào tạo được bao nhiêu người đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội.

Tuy nhiên, Thạc sĩ Sơn chỉ ra một thực tế cũng cần nhìn nhận là không phải tất cả người học văn bằng thứ hai Ngôn ngữ Anh đều có mục tiêu sử dụng kiến thức chuyên môn của ngành học trong công việc lâu dài. Không ít trường hợp học chủ yếu để đáp ứng một điều kiện nào đó, như chuẩn đầu vào hoặc chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, điều kiện dự tuyển sau đại học, nâng ngạch, xét tuyển hoặc hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động. Sau khi có bằng, nhiều người gần như không tiếp tục sử dụng hoặc cập nhật kiến thức, kỹ năng ngoại ngữ đã được đào tạo. Điều đó khiến mục tiêu học tập bị lệch từ nâng cao năng lực sang chủ yếu để có một loại giấy tờ đáp ứng yêu cầu.

Về lý do nhiều người lựa chọn học văn bằng thứ hai ngoại ngữ thay vì thi các chứng chỉ quốc tế, thạc sĩ Sơn cho rằng, có nhiều nguyên nhân.

Đối với một số quy định hoặc cơ quan tuyển dụng, bằng đại học vẫn được chấp nhận để thay thế hoặc đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trong một số trường hợp. Bên cạnh đó, chứng chỉ quốc tế thường có thời hạn sử dụng, chi phí thi tương đối cao và phải thi lại khi hết hiệu lực, trong khi văn bằng đại học có giá trị lâu dài.

Không ít người cũng cho rằng việc theo học một chương trình văn bằng thứ hai sẽ giúp họ có 'tấm bằng' ổn định hơn là phải liên tục duy trì điểm số của các chứng chỉ quốc tế. Chính vì vậy, văn bằng thứ hai vẫn có sức hút lớn, nhưng điều đó cũng đòi hỏi các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý phải bảo đảm người học thực sự đạt được năng lực ngoại ngữ tương xứng với giá trị của tấm bằng, thay vì chỉ hoàn thành các thủ tục để được cấp bằng, thăng tiến.

Đừng biến văn bằng thứ hai chỉ còn là "giấy thông hành" cho các điều kiện về hồ sơ

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII, thực tế nhiều năm qua cho thấy, đào tạo văn bằng thứ hai và chương trình vừa làm vừa học, từ xa đã trở thành 'nồi cơm' của một số cơ sở đại học. Việc tạo nguồn thu để các trường phát triển là cần thiết, nhất là trong điều kiện tự chủ đại học. Nhưng nếu vì áp lực tài chính mà mở rộng tuyển sinh bằng mọi giá thì rất dễ dẫn đến nguy cơ xem nhẹ chất lượng.

image.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Ảnh: NVCC.

Đáng lo ngại hơn, thời gian qua đã xảy ra một số vụ việc lãnh đạo các trường đại học vướng vòng lao lý liên quan đến hoạt động đào tạo, cấp phát chứng chỉ ngoại ngữ, văn bằng thứ hai ngành Ngôn ngữ Anh. Những vụ việc này không chỉ gây ảnh hưởng đến uy tín của các cơ sở giáo dục mà còn làm giảm niềm tin của xã hội đối với giá trị của văn bằng, chứng chỉ. Đó là bài học rất đắt giá về công tác quản trị đại học và quản lý nhà nước.

"Theo tôi, cơ quan quản lý cần rà soát toàn diện việc tuyển sinh và đào tạo văn bằng thứ hai, đặc biệt ở những ngành có quy mô tuyển sinh tăng mạnh. Về lâu dài, cần chuyển từ quản lý theo tiền kiểm sang hậu kiểm nhưng hậu kiểm phải thực chất, có chế tài đủ mạnh. Quan trọng nhất là bảo vệ giá trị của tấm bằng.

Điều đáng lo là ở một số trường hợp, văn bằng hai Ngôn ngữ Anh bị nhìn nhận như một "giấy thông hành" hợp lệ để đáp ứng các tiêu chuẩn về hồ sơ, thay vì là minh chứng cho năng lực thực sự của người học. Nếu cả người học và cơ sở đào tạo đều coi trọng tấm bằng hơn quá trình học tập thì mục tiêu của giáo dục sẽ bị lệch hướng. Vì vậy, cùng với việc đáp ứng nhu cầu xã hội, cơ quan quản lý cần siết chặt các điều kiện bảo đảm chất lượng để mỗi văn bằng được cấp đều phản ánh đúng năng lực của người học", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An nhấn mạnh.

Thi Thi