Dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, dự kiến thay thế Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT đang thu hút sự quan tâm từ phía các cơ sở giáo dục nhất là các trường đào tạo đặc thù. Dự thảo quy định không áp dụng tiêu chí 6.2 về công bố khoa học đối với cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực Nghệ thuật.
Đại diện cơ sở giáo dục và chuyên gia trong lĩnh vực Nghệ thuật đã chỉ ra những đặc thù của hoạt động nghiên cứu, công bố khoa học trong khối ngành này, đồng thời đề xuất xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá thay thế phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực.
Sản phẩm học thuật, sáng tạo không hoàn toàn tương đồng với mô hình công bố khoa học truyền thống
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam về điểm mới trong dự thảo, Thạc sĩ Bùi Thanh Tú - Trưởng phòng Đào tạo, Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Học viện Múa Việt Nam cho hay, so với Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT, dự thảo đã quy định rõ tiêu chí về số lượng bài báo trên Web of Science (WoS) và Scopus chỉ áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ và không phải trường đào tạo ngành đặc thù; đồng thời cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực nghệ thuật không áp dụng tiêu chí 6.2 về công bố khoa học.
Thực tế, đối với các ngành nghệ thuật, hoạt động nghiên cứu gắn bó chặt chẽ với hoạt động sáng tạo. Quá trình nghiên cứu nhiều khi được thực hiện thông qua sáng tác, dàn dựng, biểu diễn, thực nghiệm nghệ thuật, phục dựng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, hoặc xây dựng các phương pháp đào tạo và huấn luyện mới. Những kết quả đó có hàm lượng tri thức cao, đòi hỏi quá trình nghiên cứu nghiêm túc, nhưng sản phẩm cuối cùng không nhất thiết là một bài báo đăng trên tạp chí quốc tế.
Tinh thần của dự thảo không nằm ở việc "miễn" một tiêu chí cho các trường nghệ thuật, mà ở sự chuyển đổi từ tư duy đánh giá theo hình thức biểu hiện của kết quả nghiên cứu sang đánh giá theo giá trị học thuật thực chất mà kết quả nghiên cứu tạo ra. Đó cũng là xu hướng mà nhiều hệ thống giáo dục đại học tiên tiến đang hướng tới: bảo đảm chuẩn chất lượng chung, nhưng tôn trọng sự đa dạng về phương thức sáng tạo và tạo ra tri thức của từng lĩnh vực đào tạo.
Đặc biệt, nếu không áp dụng tiêu chí công bố khoa học quốc tế đối với các trường đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật thì điều quan trọng là phải xây dựng được một hệ thống chỉ số thay thế đủ năng lực phản ánh chất lượng học thuật, năng lực sáng tạo và mức độ đóng góp của cơ sở giáo dục đại học đối với sự phát triển của ngành cũng như của xã hội.
Cùng bàn luận về nội dung này, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Xuân Tiên - Ủy viên Hội đồng Giáo sư liên ngành Văn hóa - Nghệ thuật - Thể dục thể thao năm 2024, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra, yêu cầu công bố khoa học, nhất là công bố quốc tế từ lâu đã là một trong những rào cản lớn đối với đội ngũ giảng viên thuộc lĩnh vực Nghệ thuật. Trong những năm gần đây, số lượng giảng viên lĩnh vực này đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư rất ít, một trong những nguyên nhân là khó đáp ứng yêu cầu về công bố quốc tế.
"Đối với ngành Mỹ thuật, không dễ tìm được tạp chí quốc tế phù hợp để công bố. Các tạp chí quốc tế thường yêu cầu nghiên cứu có hệ thống số liệu, khảo sát, phương pháp và các minh chứng định lượng rõ ràng. Trong khi đó, nghiên cứu nghệ thuật lại thiên về cảm thụ, sáng tạo và phân tích giá trị nghệ thuật hơn là các số liệu thống kê.
Vì vậy, nhiều giảng viên buộc phải hợp tác với các nhà nghiên cứu ở ngành khác, chẳng hạn kiến trúc, để có thể công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc ngành này. Từ đó, đề tài nghiên cứu cũng phải xoay quanh những vấn đề giao thoa giữa mỹ thuật và kiến trúc, thay vì đi sâu vào các vấn đề cốt lõi của mỹ thuật. Điều này khiến giảng viên khó theo đuổi những hướng nghiên cứu chuyên sâu đúng với chuyên môn.
Việc phải "đi nhờ" các ngành khác để đáp ứng yêu cầu công bố quốc tế không chỉ tạo áp lực cho giảng viên mà còn có nguy cơ làm lệch định hướng nghiên cứu của ngành nghệ thuật. Về lâu dài, điều này có thể ảnh hưởng đến việc hình thành các công trình mang tính đột phá, chuyên sâu trong chính lĩnh vực mỹ thuật nói riêng và nghệ thuật nói chung”.
Theo thầy Tiên, khi không áp dụng tiêu chí về công bố khoa học nhất là công bố quốc tế đối với các cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực nghệ thuật thì cần xây dựng cơ chế quy đổi sang những sản phẩm phù hợp. Ví dụ, có thể xem xét quy đổi từ các bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận và chấm điểm ở mức tương đương với các tạp chí quốc tế. Vì vậy, cần thiết phải đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống tạp chí chuyên ngành trong nước. Khi đó, giảng viên các trường nghệ thuật sẽ có thêm địa chỉ để công bố các nghiên cứu đúng chuyên ngành, giảm áp lực phải tìm cách công bố ở những lĩnh vực khác chỉ để đáp ứng yêu cầu.
Bên cạnh đó, các giải thưởng nghệ thuật cũng có thể được đưa vào hệ thống đánh giá, nhưng cần quy định tiêu chí rõ ràng. Đối với các giải thưởng của nước ngoài, không phải mọi giải thưởng mang tên "quốc tế" đều nên được công nhận. Chỉ những giải thưởng do các hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức chuyên môn hoặc cơ quan quản lý nhà nước có uy tín tổ chức mới đủ giá trị quy đổi. Tương tự, đối với giải thưởng trong nước, có thể xem xét các giải chính thức cấp quốc gia do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc các hội chuyên ngành tổ chức. Song song với đó, cần quy định hệ số điểm phù hợp giữa giải thưởng trong nước và quốc tế để bảo đảm tính công bằng trong đánh giá.
Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá thay thế đủ khoa học và sức phản ánh chất lượng
Đề cập cụ thể hơn đến hệ thống đánh giá đối với cơ sở đào tạo nghệ thuật, Thạc sĩ Bùi Thanh Tú chỉ ra, vẫn cần bảo đảm các nguyên tắc chung của đánh giá chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Đó là có thể kiểm chứng, có minh chứng rõ ràng, có khả năng so sánh và phản ánh được chất lượng thực chất.
Trước hết, cần đánh giá chất lượng sản phẩm học thuật. Đối với lĩnh vực Nghệ thuật, sản phẩm học thuật không chỉ là bài báo khoa học mà còn bao gồm các tác phẩm nghệ thuật, chương trình biểu diễn, công trình sáng tác, công trình nghiên cứu ứng dụng, giáo trình, tài liệu giảng dạy, phương pháp đào tạo, phương pháp huấn luyện hoặc các sản phẩm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được nghiệm thu, thẩm định hoặc đưa vào sử dụng trong đào tạo và hoạt động nghề nghiệp. Những sản phẩm này đều là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo và thực nghiệm, vì vậy cần được nhìn nhận như một dạng kết quả học thuật đặc thù.
Tiếp đó, cần đánh giá mức độ ảnh hưởng học thuật và nghề nghiệp của các sản phẩm trên. Trong nhiều lĩnh vực, giá trị của một nghiên cứu được thể hiện qua số lần trích dẫn. Đối với nghệ thuật, giá trị có thể được phản ánh thông qua việc tác phẩm được lựa chọn biểu diễn tại các liên hoan nghệ thuật có uy tín, được dàn dựng và khai thác lâu dài, được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, được các đơn vị nghệ thuật tiếp nhận hoặc tạo ra ảnh hưởng đối với hoạt động nghề nghiệp và đời sống văn hóa. Đây cũng là những minh chứng khách quan về giá trị học thuật và sức lan tỏa của kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng, coi trọng năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức. Một phương pháp đào tạo mới được áp dụng hiệu quả, một quy trình huấn luyện giúp nâng cao chất lượng đào tạo tài năng, một mô hình bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống được triển khai trong thực tiễn hay một sản phẩm số phục vụ giảng dạy nghệ thuật đều là kết quả của hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Những giá trị này hoàn toàn phù hợp với tinh thần mà dự thảo đang hướng tới khi mở rộng Tiêu chuẩn 6 từ "Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo" thành "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo".
Bên cạnh đó, thầy Tú cho rằng, Việt Nam cũng cần từng bước tiếp cận thông lệ quốc tế trong đánh giá các ngành nghệ thuật. Ở nhiều quốc gia, khi đánh giá năng lực nghiên cứu đối với các lĩnh vực sáng tạo, không chỉ căn cứ vào bài báo khoa học mà còn xem xét danh mục "research outputs", bao gồm tác phẩm nghệ thuật, triển lãm, biểu diễn, thiết kế, sáng tác, hồ sơ sáng tạo và các minh chứng về tác động học thuật, nghề nghiệp hoặc xã hội. Điều này cho thấy xu hướng chung không phải là hạ thấp chuẩn nghiên cứu mà là mở rộng khái niệm "kết quả nghiên cứu" để phù hợp với đặc trưng của từng lĩnh vực.
“Theo tôi, hướng đi phù hợp nhất là xây dựng một hệ thống đánh giá đa tiêu chí, trong đó công bố quốc tế vẫn là một chỉ báo cần thiết đối với những lĩnh vực phù hợp, còn đối với nghệ thuật cần bổ sung các chỉ báo phản ánh đúng giá trị sáng tạo, giá trị học thuật và tác động xã hội của sản phẩm nghiên cứu. Chỉ khi bảo đảm được cả hai yêu cầu, vừa duy trì chuẩn chất lượng của giáo dục đại học, vừa tôn trọng đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật, thì việc đánh giá mới thực sự công bằng, khách quan và tạo động lực cho các trường phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế” - thầy Tú bày tỏ.
Góp ý thêm cho dự thảo, đại diện Học viện Múa Việt Nam cho hay, trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể nghiên cứu xây dựng một bộ tiêu chí đặc thù đối với lĩnh vực nghệ thuật theo hướng kết hợp giữa các chỉ báo định lượng và định tính. Ngoài các tiêu chí chung của giáo dục đại học, có thể xem xét bổ sung các chỉ số phản ánh chất lượng tác phẩm nghệ thuật, kết quả nghiên cứu ứng dụng, sản phẩm chuyển giao, giáo trình, học liệu, phương pháp đào tạo mới, giải thưởng chuyên môn, ảnh hưởng nghề nghiệp, mức độ đóng góp đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc cũng như tác động xã hội của các hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Các tiêu chí này cần được lượng hóa bằng hệ thống minh chứng rõ ràng, có cơ chế thẩm định độc lập và có khả năng kiểm chứng để bảo đảm tính khách quan.
Việc xây dựng chuẩn đối với lĩnh vực nghệ thuật cũng nên được thực hiện trên cơ sở tham vấn rộng rãi các cơ sở đào tạo, các hội nghề nghiệp, các nhà khoa học, nghệ sĩ và chuyên gia kiểm định chất lượng giáo dục. Chỉ khi hệ thống tiêu chí được xây dựng từ thực tiễn hoạt động của lĩnh vực thì mới vừa bảo đảm tính khả thi, vừa tạo được sự đồng thuận trong quá trình triển khai.
Từ góc nhìn của Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Xuân Tiên, việc dự thảo không áp dụng tiêu chí 6.2 đối với cơ sở giáo dục đại học lĩnh vực nghệ thuật không có nghĩa là giảng viên nghệ thuật không cần nghiên cứu khoa học hoặc không cần công bố quốc tế. Ngược lại, quy định trong dự thảo sẽ kéo theo sự thay đổi trong cách các cơ sở giáo dục đại học xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ theo hướng toàn diện hơn.
Việc đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên các trường nghệ thuật cần dựa trên ba nhóm tiêu chí cốt lõi. Đầu tiên là năng lực chuyên môn, được thể hiện thông qua các tác phẩm sáng tạo, triển lãm, biểu diễn và các giải thưởng nghề nghiệp. Đây là minh chứng trực tiếp cho trình độ của giảng viên và cũng là yếu tố được nhiều người học quan tâm. Cùng với đó là năng lực giảng dạy, tức khả năng truyền đạt kiến thức, hướng dẫn và đào tạo người học. Đi cùng năng lực nghiên cứu khoa học, bao gồm cả nghiên cứu lý luận, thực hiện các đề tài khoa học các cấp, công bố trên các tạp chí chuyên ngành và các hoạt động học thuật khác.
"Đối với giảng viên lĩnh vực Nghệ thuật, ba yếu tố này luôn gắn bó hữu cơ. Họ vừa là người thầy vừa là nghệ sĩ cũng là nhà nghiên cứu. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì rất khó phản ánh đầy đủ chất lượng của đội ngũ giảng viên cũng như chất lượng đào tạo của một cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật" - thầy Tiên khẳng định.