Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được chia thành 2 giai đoạn rõ rệt, trong đó cấp trung học phổ thông là giai đoạn định hướng nghề nghiệp. Vì thế, khác với cấp trung học cơ sở, chương trình trung học phổ thông thiết kế môn học gồm môn học bắt buộc và tự chọn. Về nguyên tắc, môn tự chọn là môn mà học sinh tự do lựa chọn theo sở thích, thế mạnh và năng lực của mình. Do đó, điểm số các môn này có thể vượt trội hơn các môn bắt buộc. Tuy nhiên, theo khảo sát của người viết từ dữ liệu tổng hợp công khai, thực tế tại một số địa phương phía Nam cho thấy, trung bình điểm thi tốt nghiệp của các môn tự chọn không cao hơn, thậm chí có môn thấp hơn môn thi bắt buộc. Điều đó đang đặt ra câu hỏi về công tác tư vấn tuyển sinh đầu cấp hiện nay.
Khi môn tự chọn có điểm thi thấp hơn môn bắt buộc
Cụ thể, tại một địa phương, điểm trung bình thi tốt nghiệp của môn Hóa cao nhất với 5,9 điểm, môn Ngữ văn và Sinh học cùng đạt 5,6 điểm, môn Toán 5,5 và Địa lý 5,2 điểm. Đáng chú ý, điểm môn Tiếng Anh thấp nhất, chỉ đạt 4,6 điểm. Từ góc độ của một nhà giáo kiêm tổ trưởng chuyên môn, tôi nhận thấy hiện tượng nghịch lý này có thể do nhiều nguyên nhân.
Một là, học sinh đầu cấp chọn môn theo đám đông hoặc tư duy né tránh. Thực tế, học sinh đầu cấp THPT chưa định vị được năng lực bản thân và chưa định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Vì thế, các em thường có xu hướng chọn tổ hợp môn theo kỳ vọng, áp đặt của gia đình hoặc theo số đông bạn thân. Ngoài ra, một xu hướng đáng lo ngại khác là nhiều em chọn môn học không phải đam mê hay theo năng lực mà chỉ để tránh các môn học khó. Chẳng hạn, có em chọn môn Lịch sử, Địa lý chưa hẳn đã giỏi hay thích những môn này, mà sự thật là vì sợ môn Vật lý, Hóa học bởi tư duy môn xã hội dễ học thuộc lòng hơn môn tự nhiên. Từ đó, các em học với tâm thế đối phó, kết quả điểm thi không cao là điều tất yếu.
Hai là, kỳ thi tốt nghiệp nhưng phục vụ cho 2 mục đích nên động cơ học tập của học sinh cũng khác nhau. Với 2 môn Toán và Ngữ văn bắt buộc, học sinh phải nỗ lực để đạt kết quả tốt nhất nhằm mục đích xét tốt nghiệp và đại học nên tâm thế học tập của các em cao hơn. Ngược lại, ở các môn lựa chọn, mục tiêu của học sinh có sự phân hóa. Nhiều học sinh có tư duy làm bài chống điểm “liệt” để đậu tốt nghiệp, phần còn lại mới thực sự đầu tư để xét tuyển đại học. Cho nên điểm trung bình các môn tự chọn thấp cũng là điều dễ hiểu.
Ba là, cấu trúc đề thi có độ phân hóa ngày càng cao. Các môn tự chọn đều thiết kế theo hình thức trắc nghiệm nhưng mức độ phân hóa rất mạnh để xét vào đại học. Vì vậy, đòi hỏi học sinh phải tư duy bao quát và hiểu biết sâu sắc chứ không thể học vẹt. Cho nên, những học sinh chọn tổ hợp môn theo số đông, không dựa trên nền tảng năng lực thực sự sẽ rất khó vượt qua ngưỡng điểm trung bình.
Bốn là, sự phân bổ nguồn lực dạy và học có sự chênh lệch cũng là một nguyên nhân. Trong suốt 3 năm trung học phổ thông, thời lượng dạy học, ôn tập và kiểm tra đánh giá dành cho môn Toán và Ngữ văn luôn được ưu tiên hơn. Ngược lại, quỹ thời gian dành cho các môn lựa chọn, đặc biệt là nhóm khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và Pháp luật còn khá khiêm tốn. Bên cạnh đó, học sinh thường chủ động tìm đến trung tâm học thêm từ rất sớm với 2 môn bắt buộc và các môn tự nhiên, còn các môn xã hội thường sắp tới ngày thi mới “vắt chân lên cổ” để học nên điểm số chưa cao cũng là điều dễ hiểu.
Rõ ràng, Chương trình giáo dục phổ thông mới cho phép học sinh quyền được lựa chọn nhưng các em chưa chọn đúng thế mạnh của mình. Vì vậy, việc đổi mới quy trình tư vấn chọn tổ hợp môn đúng sở trường và năng lực đầu cấp là giải pháp tối ưu.
Đổi mới quy trình tư vấn chọn môn đầu cấp cho học sinh
Để giải quyết nghịch lý trên, theo người viết, trường trung học phổ thông nên thay đổi cả tư duy lẫn phương pháp tư vấn tuyển sinh đầu cấp. Từ góc độ của một giáo viên trung học phổ thông, tôi xin đề xuất đổi mới quy trình một cách đồng bộ như sau:
Một là, chương trình tư vấn nên đảo ngược quy trình bấy lâu nay đã làm. Có thể nói sai lầm phổ biến hiện nay là các trường cho học sinh chọn môn ở lớp 10, rồi đến lớp 12 mới loay hoay chọn ngành, chọn trường. Quy trình này nên đảo ngược lại theo mô hình: Xác định mục tiêu nghề nghiệp trước, rồi chọn ngành/trường đại học, cuối cùng là lựa chọn tổ hợp môn học.
Để vận hành quy trình này, nhà trường cần làm công tác tư tưởng phụ huynh để cởi bỏ áp lực, không ép buộc con cái gánh vác ước mơ thay cha mẹ. Không thể ép một học sinh tư duy logic định lượng chưa tốt mà phải theo đuổi khối tự nhiên chỉ vì “nghe nói ngành công nghệ dễ xin việc”. Sự áp đặt này vô tình tạo áp lực học tập khủng khiếp, đồng thời làm hẹp cánh cửa vào đại học của các em.
Hai là, nhà trường nên tổ chức khảo sát nhằm giúp các em định vị lại năng lực bản thân. Thông thường, điểm số học bạ ở bậc trung học cơ sở thường có độ lệch khá lớn so với thực tế do tiêu chí đánh giá tùy thuộc vào từng trường. Vì vậy, có thể ngay từ đầu năm học, nhà trường nên tổ chức các bài kiểm tra khảo sát năng lực. Kết quả này kết hợp với điểm thi tuyển sinh lớp 10 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh) là cơ sở dữ liệu khách quan nhất để tư vấn cho gia đình học sinh.
Đặc biệt, trong buổi họp phụ huynh đầu cấp, nhà trường cần phân tích phổ điểm trực quan cho người nghe dễ hình dung. Ví dụ, nếu điểm thi vào lớp 10 môn Toán của học sinh chỉ đạt 5,0 điểm, bài khảo sát Lý - Hóa đầu năm ở mức trung bình yếu, thì việc chọn tổ hợp tự nhiên (Lý - Hóa - Tin) là mạo hiểm lớn. Để tạo tâm lý học tập thoải mái, em này nên chuyển sang nhóm môn xã hội kết hợp công nghệ là giải pháp an toàn.
Ba là phân loại tổ hợp môn theo từng nhóm đối tượng học sinh. Công tác hướng nghiệp chỉ thực sự hiệu quả khi nhà trường biết “đo ni đóng giày” cho từng nhóm học sinh. Chẳng hạn, nhóm xuất sắc thì định hướng các tổ hợp tự nhiên hoặc xã hội nâng cao kết hợp với ngoại ngữ để tham gia các kỳ thi chọn học sinh giỏi hoặc đánh giá năng lực. Nhóm khá và trung bình, nhà trường nên thiết kế các tổ hợp linh hoạt như kết hợp một môn lý thuyết thế mạnh và một môn mang tính ứng dụng cao như Tin học, Công nghệ. Cách này sẽ giảm áp lực học tập, tối ưu hóa điểm số để xét vào các ngành kinh tế, dịch vụ hoặc kỹ thuật ứng dụng.
Hoặc với nhóm học sinh yếu hoặc mất căn bản tiếng Anh thì nên định hướng các em tiếp cận nhóm môn giàu tính thực hành, hoặc dễ bao quát kiến thức như Lịch sử, Địa lý kết hợp Công nghệ, Giáo dục kinh tế và pháp luật để đảm bảo đỗ tốt nghiệp, hướng tới học nghề hoặc các trường cao đẳng.
Bốn là, truyền thông rõ ràng về hậu quả của việc đổi môn giữa chừng. Nhiều phụ huynh và học sinh hiện nay còn tư duy chủ quan, là chọn đại môn học ở lớp 10 rồi chờ lên lớp 11, 12 xin đổi. Đây là một tư duy sai lầm. Theo quy định, khi đổi môn lựa chọn, học sinh phải tự học lại toàn bộ kiến thức của môn học mới và phải làm bài kiểm tra sát hạch. Nếu đủ điều kiện mới được chuyển đổi môn học. Do đó, chọn đúng tổ hợp môn ngay từ lớp 10 không chỉ là giải pháp tiết kiệm thời gian, chi phí học thêm mà còn là cách bảo vệ sức khỏe tâm lý tốt nhất cho học sinh.
Tóm lại, điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông không chỉ là thước đo năng lực cá nhân sau 12 năm đèn sách vất vả, mà nó còn là tấm gương phản chiếu công tác hướng nghiệp đầu cấp của nhà trường. Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là giúp học sinh phát huy đúng năng lực cá nhân, từ đó tạo nền tảng vững chắc để các em trở thành nguồn nhân lực chất lượng trong tương lai. Để tiến tới mục tiêu đó, nhà trường cần thay đổi quy trình những buổi tư vấn nghề nghiệp cho học sinh đầu cấp ngay lúc bắt đầu bước chân trong bậc trung học phổ thông.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn của tác giả.