Từ năm 2027, NCS không được làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học

14/07/2026 11:30
Doãn Nhàn

GDVN - Đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ được tổ chức theo hình thức đào tạo chính quy, trong đó nghiên cứu sinh không được làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập.

Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học. Thông tư áp dụng đối với các khóa thông báo tuyển sinh trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ từ ngày 1/1/2027.

Theo quy chế mới, nhiều quy định liên quan đến đào tạo trình độ tiến sĩ được bổ sung và siết chặt. Cụ thể, nghiên cứu sinh không được làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập; người hướng dẫn nghiên cứu sinh phải đáp ứng tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ, có năng lực hướng dẫn và có công bố khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS) hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu trong 5 năm tính đến thời điểm hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh phải đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học với bài báo thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, bài báo trên tạp chí khoa học trong nước thuộc danh mục tạp chí khoa học quốc gia loại I hoặc có bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích theo quy định. Quy chế cũng bổ sung cơ chế miễn thực hiện quy trình phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả công bố khoa học vượt chuẩn đầu ra, trong đó số lượng bài báo thuộc danh mục WoS hoặc Scopus xếp loại Q1 hoặc Q2 phải nhiều hơn ít nhất 2 bài so với yêu cầu của chương trình đào tạo.

Lễ trao bằng tiến sĩ của Đại học Bách khoa Hà Nội, tháng 11/2025. Ảnh: HUST
Lễ trao bằng tiến sĩ của Đại học Bách khoa Hà Nội, tháng 11/2025. Ảnh: HUST

Quy định về giảng viên đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

Đối với đào tạo trình độ tiến sĩ, giảng viên phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ ngành phù hợp với học phần đảm nhiệm.

Giảng viên chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm giảng dạy hoặc tham gia nghiên cứu khoa học kể từ khi được cấp bằng tiến sĩ; có kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và có công trình công bố khoa học hằng năm.

Quy chế cũng cho phép cơ sở đào tạo mời giáo sư, phó giáo sư hoặc tiến sĩ đang công tác tại cơ sở giáo dục đại học nước ngoài; các chuyên gia, nhà khoa học thuộc Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định.

Về người hướng dẫn nghiên cứu sinh, quy chế mới yêu cầu phải đáp ứng tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ; có năng lực hướng dẫn nghiên cứu; có công bố khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS) hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu trong 5 năm tính đến thời điểm hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Đối với đào tạo trình độ thạc sĩ, giảng viên giảng dạy phải đáp ứng các tiêu chuẩn giảng viên đại học theo quy định của Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, quy định về chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học, chuẩn chương trình đào tạo theo ngành, lĩnh vực và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Riêng các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, đào tạo giáo viên và sức khỏe, giảng viên chưa có bằng tiến sĩ nhưng có một trong các danh hiệu như Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc ưu tú hoặc là huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích vô địch quốc gia, châu lục hoặc thế giới, hoặc được phong cấp kiện tướng quốc gia và đáp ứng yêu cầu chuyên môn vẫn được tham gia giảng dạy theo quy định.

Siết yêu cầu về công bố khoa học đối với nghiên cứu sinh

Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Phenikaa
Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Phenikaa

Theo quy chế mới, đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ tổ chức thực hiện theo hình thức đào tạo chính quy.

Nghiên cứu sinh chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình đào tạo; tham gia hoạt động chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo các cách thức do quy chế quy định.

Trong đó, nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch học tập toàn khóa; tham gia các hoạt động chuyên môn của cơ sở đào tạo như trợ giảng, hướng dẫn thực hành, thực tập, phòng thí nghiệm và không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập.

Trường hợp học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo hình thức còn lại, nghiên cứu sinh phải bảo đảm đủ thời gian theo kế hoạch học tập toàn khóa và đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học.

Nghiên cứu sinh chỉ được đánh giá luận án ở đơn vị chuyên môn khi hoàn thành chương trình đào tạo; được người hướng dẫn đồng ý; đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm khoa học, công nghệ, nghệ thuật, thể thao theo quy định của chương trình đào tạo và cam kết thực hiện liêm chính học thuật, liêm chính khoa học.

Các công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm sử dụng trong luận án phải liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu và được công bố, xuất bản hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chấp nhận trước thời điểm tổ chức đánh giá luận án tại cơ sở đào tạo.

Quy chế quy định nghiên cứu sinh có thể đáp ứng yêu cầu thông qua bài báo khoa học, báo cáo hội nghị khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, chương sách tham khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, bài báo trên tạp chí khoa học trong nước thuộc danh mục tạp chí khoa học quốc gia loại I, hoặc các bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Đối với lĩnh vực nghệ thuật và thể thao, có thể là các tác phẩm, công trình hoặc thành tích chuyên môn theo quy định.

Đáng chú ý, cơ sở đào tạo được quyết định miễn thực hiện quy trình phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả công bố khoa học vượt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy chế, trong đó có yêu cầu số lượng bài báo thuộc danh mục WoS hoặc Scopus xếp loại Q1 hoặc Q2 nhiều hơn ít nhất 2 bài so với chuẩn đầu ra của chương trình.

Cơ sở đào tạo phải công khai thông tin

Theo quy chế, cơ sở đào tạo phải công khai trên trang thông tin điện tử các nội dung như: quy chế tuyển sinh, đào tạo, đánh giá và cấp bằng; thông tin tuyển sinh, chuẩn đầu ra, hình thức đào tạo, học phí, học bổng; đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, luận văn, luận án; tình hình tuyển sinh, học tập và tốt nghiệp của người học cùng các thông tin khác theo quy định.

Đồng thời, cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và cập nhật của các dữ liệu, thông tin đã công khai và báo cáo.

Trong thời gian từ khi Thông tư có hiệu lực đến trước thời điểm áp dụng đối với các khóa tuyển sinh từ ngày 1/1/2027, các cơ sở đào tạo có trách nhiệm rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành quy chế đào tạo; cập nhật chương trình đào tạo; chuẩn bị các điều kiện bảo đảm chất lượng; công khai thông tin, cập nhật dữ liệu và thực hiện chế độ báo cáo để tổ chức tuyển sinh, đào tạo theo quy định mới.

Thông tư này thay thế Thông tư số 23/2021/TT-BGDĐT ngày 30/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ và Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ngày 28/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ.

Quy chế không áp dụng đối với việc tuyển sinh và tổ chức đào tạo các chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học thuộc lĩnh vực sức khỏe cấp văn bằng bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa. Các chương trình này do Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn, tổ chức thực hiện và quản lý.

Độc giả xem toàn văn Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học tại đây.

Doãn Nhàn